Tổng quan nghiên cứu

Thoái hóa khớp gối là một trong những bệnh lý xương khớp mạn tính phổ biến nhất trên toàn cầu, gây tổn thương tiến triển ở sụn khớp và xương dưới sụn. Theo các số liệu dịch tễ học, thoái hóa khớp gối chiếm tỷ lệ 56,5% tổng số các trường hợp thoái hóa khớp phải điều trị nội trú tại các bệnh viện lớn ở Việt Nam. Tại Hoa Kỳ, mỗi năm ghi nhận khoảng 21 triệu người mắc thoái hóa khớp gối, dẫn đến 4 triệu ca nhập viện và khoảng 100.000 bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng đi lại độc lập. Căn bệnh này là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu cho người cao tuổi, chỉ đứng thứ hai sau các bệnh lý tim mạch.

Trong thực hành lâm sàng của Y học hiện đại, việc sử dụng các loại thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau thông thường hoặc tiêm corticoid nội khớp tuy mang lại hiệu quả tức thì nhưng tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ nguy hiểm như viêm loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, tổn thương men gan và suy giảm chức năng thận. Xu hướng điều trị hiện nay đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các giải pháp can thiệp không dùng thuốc hoặc kết hợp Y học cổ truyền với công nghệ y khoa tiên tiến nhằm gia tăng tính an toàn.

Được thực hiện bởi tác giả Hồ Chí Công dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Phạm Hồng Vân tại Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam, đề tài nghiên cứu tập trung đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng và mức độ an toàn của liệu pháp kết hợp điện châm với sóng xung kích trên 80 bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát. Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương trong khoảng thời gian từ tháng 03/2020 đến tháng 08/2020.

Mục tiêu trọng tâm của công trình là lượng hóa mức độ thuyên giảm cơn đau theo thang điểm nhìn VAS, mức độ cải thiện tầm vận động khớp qua thang điểm WOMAC và chỉ số gót mông, đồng thời theo dõi sát các biến đổi huyết học, sinh hóa để chứng minh tính vượt trội của phương pháp kết hợp đông tây y. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp một phác đồ điều trị bảo tồn an toàn, nâng tỷ lệ bệnh nhân phục hồi tốt và khá lên trên 80%, giúp giảm thiểu đáng kể chi phí dùng thuốc cho người bệnh cao tuổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa khoa học giữa sinh lý bệnh học khớp hiện đại và học thuyết kinh lạc truyền thống:

Thứ nhất, thuyết cơ chế bệnh sinh của thoái hóa khớp theo Y học hiện đại giải thích rằng tình trạng quá tải lực cơ học làm thay đổi chuyển hóa tế bào sụn, kích thích giải phóng các chất trung gian gây viêm như Interleukin 1 và yếu tố hoại tử u TNF-alpha. Các chất này kích hoạt hệ enzyme tiêu protein làm đứt gãy sợi collagen, mòn lớp đệm sụn và hình thành gai xương phản ứng.

Thứ hai, thuyết kiểm soát cổng đau của Melzack và Wall năm 1965 kết hợp hiện tượng hưng phấn thần kinh của Wedensky giải thích cơ chế điện châm. Việc kích thích xung điện liên tục vào các huyệt vị qua các sợi thần kinh hướng tâm A có bao myelin sẽ ức chế dẫn truyền cảm giác đau của sợi C không myelin ở sừng sau tủy sống, đồng thời kích thích não bộ tiết endorphin giảm đau nội sinh.

Thứ ba, nguyên lý sóng xung kích cơ học dạng tỏa tròn sử dụng năng lượng sóng áp suất nén khí để tác động trực tiếp vào các điểm bám gân cơ quanh khớp bánh chè. Xung lực cơ học giúp giảm nồng độ chất dẫn truyền đau P, phá tan lắng đọng vôi hóa vi thể và kích thích tăng sinh vi mạch máu nuôi dưỡng mô sụn.

Thứ tư, học thuyết Y học cổ truyền xếp bệnh vào phạm vi chứng Tý thể Phong hàn thấp tý với bệnh danh Hạc tất phong. Bệnh khởi phát khi chính khí và tạng can thận suy giảm, tạo điều kiện cho phong hàn thấp tà xâm phạm kinh lạc làm khí huyết ứ trệ, biểu hiện qua triệu chứng đau nhức, co duỗi khó khăn và sợ lạnh.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa gồm: thang điểm đau nhìn VAS từ 0 đến 10 điểm; bộ chỉ số đánh giá chức năng khớp WOMAC gồm 24 mục với thang điểm tối đa 96 điểm; chỉ số đo khoảng cách gót mông theo đơn vị centimet; và thang phân loại giai đoạn tổn thương khớp gối trên phim X-quang theo tiêu chuẩn Kellgren và Lawrence.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng tiến cứu, ngẫu nhiên có đối chứng, so sánh đối chiếu trước và sau điều trị dọc theo thời gian 20 ngày can thiệp.

Dữ liệu được thu thập trực tiếp từ 80 bệnh nhân được chẩn đoán xác định thoái hóa khớp gối theo tiêu chuẩn của Hội Khớp học Hoa Kỳ ACR 1991 ở giai đoạn 1 và 2 trên phim chụp X-quang, đồng thời đạt tiêu chuẩn chứng Tý thể Phong hàn thấp tý theo Y học cổ truyền, có điểm đau VAS từ 4 điểm trở lên. Cỡ mẫu 80 đối tượng được tính toán theo công thức chuẩn cho thử nghiệm lâm sàng so sánh hai tỷ lệ với mức sai số loại một alpha 0,05, lực mẫu thống kê 80%, tỷ lệ kỳ vọng đạt kết quả tốt của nhóm nghiên cứu là 87% và nhóm đối chứng là 55%.

Mẫu nghiên cứu được phân bổ ngẫu nhiên thành hai nhóm đồng đều:

  • Nhóm nghiên cứu gồm 40 bệnh nhân: Áp dụng điện châm 30 phút mỗi ngày liên tục trong 20 ngày trên phác đồ huyệt kinh điển gồm châm tả các huyệt Độc tỵ, Tất nhãn, Lương khâu, Dương lăng tuyền, Ủy trung, Hạc đỉnh kết hợp châm bổ Huyết hải, Tam âm giao, Âm lăng tuyền; kết hợp điều trị bằng máy sóng xung kích Radial Spec với 3000 xung, tần số 15Hz, áp suất 1,5 đến 2,0 bars tại các điểm bám quanh bánh chè vào các ngày thứ 0, 5, 10, 15 và 20 của liệu trình.
  • Nhóm đối chứng gồm 40 bệnh nhân: Sử dụng thuốc Glucosamine sulfat dạng bột uống với liều chuẩn 1500mg mỗi ngày trong suốt 20 ngày.

Toàn bộ số liệu được phân tích trên phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0. Các biến số định tính được so sánh bằng kiểm định Chi-bình phương, các biến số định lượng liên tục được kiểm định bằng thuật toán T-Student. Ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập ở mức p nhỏ hơn 0,05. Lý do lựa chọn các kiểm định này nhằm đảm bảo tính khách quan tối đa, loại bỏ hoàn toàn các sai số ngẫu nhiên giữa hai nhánh can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ 80 bệnh nhân tham gia thử nghiệm lâm sàng mang lại các phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, về đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng ban đầu: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 65,1 ± 8,02 tuổi, trong đó nhóm tuổi từ 60 đến 69 chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,3%. Bệnh nhân nữ chiếm đa số áp đảo với 75,0% tổng mẫu, cao gấp 3 lần so với nam giới (25,0%). Nhóm lao động chân tay chiếm tỷ lệ 63,8%. Thời gian mắc bệnh trung bình kéo dài 5,25 ± 1,56 năm và có tới 61,3% bệnh nhân bị tổn thương cùng lúc cả hai bên khớp gối. Về hình ảnh X-quang, mức độ tổn thương giai đoạn 2 chiếm đa số với 86,3%, giai đoạn 1 chiếm 13,7%. Toàn bộ 100% bệnh nhân đều có triệu chứng đau khớp và hạn chế biên độ gấp duỗi trước can thiệp.

Thứ hai, về hiệu quả cắt cơn đau theo thang điểm VAS: Trước điều trị, 81,3% bệnh nhân chịu đựng mức đau vừa (VAS 4 đến 6 điểm) và 18,7% đau nặng (VAS 7 đến 8 điểm). Sau 10 ngày điều trị, nhóm can thiệp kết hợp đã xóa bỏ hoàn toàn tỷ lệ đau nặng về 0%, trong khi nhóm đối chứng dùng thuốc vẫn còn 70,0% bệnh nhân đau vừa. Sau 20 ngày điều trị trọn vẹn, nhóm nghiên cứu đạt 27,5% bệnh nhân hoàn toàn không còn đau (VAS 0 đến 1 điểm), 67,5% chỉ còn đau nhẹ và chỉ còn 5,0% đau vừa. Trong khi đó, ở nhóm đối chứng dùng Glucosamine, tỷ lệ không đau chỉ đạt 12,5%, đau nhẹ là 45,0% và vẫn còn tới 42,5% bệnh nhân đau mức độ vừa. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê vượt trội với p nhỏ hơn 0,05.

Thứ ba, về khả năng cải thiện chức năng vận động và tầm vận động khớp: Trước điều trị, có tới 63,7% bệnh nhân bị rối loạn chức năng khớp gối mức độ nặng trên thang điểm WOMAC (từ 31 đến 60 điểm) và 70,0% bệnh nhân hạn chế vận động mức độ nặng với khoảng cách gót mông vượt quá 10cm. Sau liệu trình 20 ngày, chỉ số WOMAC và khoảng cách gót mông ở nhóm điện châm kết hợp sóng xung kích giảm sâu và nhanh hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng, giúp người bệnh lấy lại khả năng đi lại, đứng lên ngồi xuống và leo cầu thang dễ dàng.

Thứ tư, về độ an toàn lâm sàng và chỉ số cận lâm sàng: Suốt quá trình điều trị, tỷ lệ xuất hiện biến chứng tại chỗ như chảy máu, vựng châm, nhiễm trùng nơi châm kim hay đau tăng sau sóng xung kích đều ghi nhận ở mức 0%. Các chỉ số huyết học như hồng cầu, huyết sắc tố và các chỉ số sinh hóa gan thận gồm AST, ALT, Creatinin, Ure, Glucose trước và sau điều trị đều duy trì ổn định trong giới hạn sinh lý chuẩn, không có sự biến đổi tiêu cực.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả giảm đau và phục hồi chức năng vượt trội của nhóm can thiệp bắt nguồn từ cơ chế hiệp đồng tác dụng mạnh mẽ. Điện châm theo nguyên lý Y học cổ truyền giúp khai thông kinh lạc ứ trệ, điều hòa khí huyết, kết hợp với tác động rung kim điện tần số 5 đến 10Hz giúp thư giãn sâu các khối cơ quanh khớp gối. Cùng lúc đó, sóng xung kích phát ra 3000 xung áp suất cao tác động thẳng vào các điểm bám gân dây chằng quanh xương bánh chè, giải phóng sự co thắt xơ hóa, loại bỏ các chất chuyển hóa có tính toan và kích thích tuần hoàn cục bộ phát triển. Đúng như nhận định của các chuyên gia đầu ngành, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại mang lại hiệu quả bền vững cho các bệnh lý thoái hóa mạn tính.

So sánh với các nghiên cứu trước đây, kết quả này hoàn toàn tương thích với báo cáo của Mascarin và cộng sự trên thế giới khi chứng minh trị liệu sóng cơ học kết hợp kích thích điện mang lại hiệu quả giảm đau VAS bền vững sau 12 tuần. Tại Việt Nam, kết quả này cũng kế thừa và phát triển từ công trình của Phó Giáo sư Phạm Hồng Vân năm 2017 với tỷ lệ bệnh nhân thoái hóa khớp gối đạt mức phục hồi tốt lên tới 83,3%.

Về mặt biểu diễn trực quan, các chuỗi dữ liệu trong nghiên cứu có thể được thể hiện qua các đồ thị đường biểu diễn độ dốc suy giảm của điểm đau VAS tại 3 mốc thời gian ngày 0, ngày 10 và ngày 20. Đồng thời, biểu đồ cột so sánh tỷ lệ phân bố mức độ hạn chế tầm vận động gót mông sẽ làm nổi bật sự thu hẹp khoảng cách vận động giữa hai nhánh can thiệp. Việc không gây biến đổi các chỉ số sinh hóa máu khẳng định đây là liệu pháp thay thế hoàn hảo cho các thuốc giảm đau kháng viêm NSAIDs vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ loét dạ dày cho người cao tuổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng lâm sàng thuyết phục thu được từ luận văn, bốn nhóm khuyến nghị giải pháp cụ thể được đề xuất:

Thứ nhất, ban hành quy trình kỹ thuật chuẩn hóa về phác đồ kết hợp: Đề nghị Hội đồng khoa học các bệnh viện chuyên khoa Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng áp dụng chính thức phác đồ điện châm 30 phút mỗi ngày liên tục 20 ngày kết hợp 5 buổi sóng xung kích định kỳ 5 ngày một lần (áp suất 1,5 đến 2,0 bars, tần số 15Hz, 3000 xung). Mục tiêu là đạt tỷ lệ giảm đau VAS trên 70% và tỷ lệ phục hồi chức năng tốt - khá trên 85% cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối giai đoạn 1 và 2 trong vòng 20 ngày điều trị nội trú hoặc ngoại trú.

Thứ hai, nâng cao năng lực thao tác chuyên môn cho nhân sự y tế: Các cơ sở khám chữa bệnh cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật định kỳ 6 tháng một lần cho 100% bác sĩ và kỹ thuật viên chuyên ngành châm cứu, phục hồi chức năng. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng xác định chính xác các điểm bám gân quanh khớp gối, làm chủ thông số máy sóng xung kích Radial Spec và kỹ thuật châm đắc khí để đảm bảo 0% sự cố tai biến vựng châm hay tổn thương phần mềm.

Thứ ba, chuyển giao kỹ thuật và đầu tư trang thiết bị về tuyến cơ sở: Các cơ quan quản lý y tế cần triển khai kế hoạch trang bị máy phát sóng xung kích và máy điện châm đa năng cho các trung tâm y tế tuyến quận huyện trong lộ trình 12 tháng tới. Giải pháp này giúp người bệnh tại địa phương tiếp cận phương pháp điều trị kỹ thuật cao không dùng thuốc, qua đó cắt giảm ước tính 40% chi phí mua thuốc chống viêm giảm đau cho người cao tuổi có bảo hiểm y tế.

Thứ tư, mở rộng các đề tài nghiên cứu theo dõi dọc đa trung tâm: Khuyến nghị Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam phối hợp với các bệnh viện tuyến trung ương thực hiện các thử nghiệm lâm sàng mở rộng với cỡ mẫu trên 200 bệnh nhân, theo dõi đánh giá kéo dài từ 6 tháng đến 12 tháng sau điều trị để phân tích nguy cơ tái phát và khả năng bảo tồn sụn khớp lâu dài trên phim chụp cộng hưởng từ MRI.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp với bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Thứ nhất, các bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền: Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo thực chứng về phác đồ huyệt vị chuẩn xác (Độc tỵ, Tất nhãn, Lương khâu, Dương lăng tuyền, Huyết hải...) và quy chuẩn điều chỉnh tần số xung điện bổ - tả, giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị chứng Hạc tất phong trên lâm sàng hằng ngày.

Thứ hai, kỹ thuật viên và chuyên gia Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng: Luận văn cung cấp toàn bộ thông số cài đặt máy sóng xung kích chi tiết (mức áp suất 1,5 đến 2,0 bars, tần số 15Hz, liều 3000 xung) cùng vị trí tác động quanh xương bánh chè, là cẩm nang thực hành trực tiếp giúp rút ngắn thời gian phục hồi tầm vận động cho bệnh nhân.

Thứ three, học viên cao học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh khối ngành Y Dược: Đề tài là hình mẫu chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT), cách thức tính toán cỡ mẫu theo công thức hai tỷ lệ và phương pháp ứng dụng các thang điểm lượng giá quốc tế như VAS, WOMAC và chỉ số gót mông.

Thứ tư, các nhà quản lý y tế và giám đốc bệnh viện: Cung cấp cơ sở dữ liệu y học chứng cứ xác đáng để xây dựng danh mục kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật và kế hoạch đầu tư trang thiết bị công nghệ cao phục vụ công tác khám chữa bệnh kết hợp đông tây y tại đơn vị.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp kết hợp điện châm và sóng xung kích có gây cảm giác đau đớn khó chịu không? Trong thực tế điều trị, phác đồ này rất an toàn và hoàn toàn nằm trong ngưỡng dung nạp tốt của người bệnh. Khi điện châm, bác sĩ điều chỉnh cường độ dòng điện từ 0 đến 150 microAmpe từ từ để đạt cảm giác đắc khí tê tức dễ chịu. Quá trình phát 3000 xung sóng xung kích chỉ gây cảm giác tức nhẹ tại vùng gân cơ tổn thương và biến mất nhanh sau vài phút.

Hiệu quả giảm đau của phác đồ kết hợp bắt đầu xuất hiện rõ nét từ ngày thứ mấy? Các bằng chứng lâm sàng ghi nhận sự chuyển biến rất rõ rệt sau 10 ngày điều trị liên tục. Tỷ lệ bệnh nhân đau nặng đã giảm dứt điểm từ 22,5% ở ngày đầu tiên xuống 0% vào ngày thứ 10. Đến ngày thứ 20, có tới 27,5% bệnh nhân hoàn toàn không còn đau và 67,5% chỉ còn đau nhẹ, vượt trội hơn hẳn so với việc chỉ uống thuốc đơn thuần.

Những đối tượng bệnh nhân nào phù hợp nhất để chỉ định phác đồ điều trị này? Phương pháp được chỉ định tối ưu cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2 theo phân loại X-quang Kellgren và Lawrence, thuộc thể Phong hàn thấp tý theo đông y. Những trường hợp thoái hóa giai đoạn muộn có biến dạng dính khớp nặng, tràn dịch khớp lượng lớn hoặc có vết loét da tại chỗ cần được can thiệp chuyên khoa khác.

Liệu pháp này có gây ảnh hưởng xấu đến chức năng gan, thận của người cao tuổi không? Nghiên cứu khẳng định phương pháp có độ an toàn sinh học tuyệt đối. Kết quả xét nghiệm định lượng các chỉ số men gan AST, ALT cùng chức năng thận Creatinin và Ure trên toàn bộ 40 bệnh nhân sau 20 ngày điều trị đều nằm trong giới hạn bình thường, giúp người già tránh được hoàn toàn nguy cơ loét dạ dày và tổn thương gan thận do thuốc tây.

Bệnh nhân cần duy trì chế độ sinh hoạt như thế nào sau khi kết thúc 20 ngày điều trị? Người bệnh cần duy trì tập luyện dưỡng sinh nhẹ nhàng, tránh các động tác gây áp lực nặng lên khớp gối như ngồi xổm, leo cầu thang dốc hoặc mang vác vật nặng trên 10kg. Theo các chuyên gia, việc duy trì cân nặng hợp lý kết hợp tái khám định kỳ mỗi 3 đến 6 tháng sẽ giúp duy trì độ bền của sụn khớp và ngăn ngừa thoái hóa tái phát.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Hồ Chí Công đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 kết luận cốt lõi:

  • Khẳng định tính hiệu quả và sự ưu việt vượt trội của phương pháp kết hợp điện châm truyền thống với sóng xung kích hiện đại trong điều trị thoái hóa khớp gối giai đoạn 1 và 2.
  • Ghi nhận tỷ lệ giảm đau xuất sắc với 95,0% bệnh nhân đạt mức không đau hoặc chỉ đau nhẹ sau 20 ngày điều trị theo thang đo VAS.
  • Phục hồi toàn diện chức năng vận động khớp gối, thu hẹp chỉ số khoảng cách gót mông và cải thiện điểm số WOMAC cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng dùng Glucosamine.
  • Đảm bảo độ an toàn sinh học tuyệt đối với 0% tai biến lâm sàng và không làm thay đổi các chỉ số xét nghiệm huyết học, sinh hóa chức năng gan thận.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, mở ra hướng đi kiểu mẫu trong việc kết hợp tinh hoa Y học cổ truyền với công nghệ Y học hiện đại tại Việt Nam.

Kế hoạch trong lộ trình 6 đến 12 tháng tới là tiếp tục nhân rộng phác đồ điều trị này tại các cơ sở y tế chuyên khoa trên toàn quốc. Các y bác sĩ và đơn vị khám chữa bệnh hãy chủ động ứng dụng quy trình kỹ thuật này nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe toàn diện và bền vững cho cộng đồng bệnh nhân xương khớp.