Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự gia tăng phát thải, cạn kiệt tài nguyên và suy giảm chất lượng môi trường sống, tiêu dùng xanh được xác định là một cấu phần quan trọng của phát triển bền vững nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và bảo vệ sức khỏe con người. Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển bền vững và kinh tế xanh. Tại tỉnh Hà Nam, thị xã Duy Tiên đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hướng tới xây dựng đô thị sinh thái bền vững.

Tuy nhiên, các hoạt động thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh trên địa bàn thị xã Duy Tiên tại thời điểm nghiên cứu chủ yếu mang tính đơn lẻ, tính lan tỏa chưa cao và mới chỉ dừng lại ở các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức bề nổi. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Đánh giá hành vi tiêu dùng xanh của người dân trên địa bàn thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam" được thực hiện nhằm phân tích thực trạng tiêu dùng xanh, chỉ ra các rào cản và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của người dân, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi cho địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Đánh giá thực trạng hành vi mua sản phẩm xanh và sử dụng xanh của người dân tại thị xã Duy Tiên.
  2. Xác định mức độ quan tâm, các tiêu chí ưu tiên và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng xanh của người dân thị xã Duy Tiên.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị đối với người tiêu dùng, doanh nghiệp và chính quyền địa phương nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh trên địa bàn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành vi tiêu dùng xanh của người dân (bao gồm nhận thức, hành vi mua sắm và thói quen sử dụng, thải bỏ).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tại 3 đơn vị hành chính điển hình thuộc thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, gồm: phường Đồng Văn (khu vực phát triển kinh tế, thương mại), phường Hoàng Đông (khu vực cận đô thị) và xã Trác Văn (khu vực nông thôn).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 02/2021 đến tháng 03/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm và mô hình hành vi tiêu dùng bền vững:

  • Khái niệm tiêu dùng xanh: Tiếp cận từ định nghĩa của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2005) về tiêu dùng bền vững, Báo cáo Brundtland (WCED, 1987) và tài liệu Cẩm nang sống xanh của Getgreen (2012). Tiêu dùng xanh được hiểu là việc mua, sử dụng và thải bỏ sản phẩm nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe.
  • Sản phẩm xanh và hành vi mua hàng xanh: Tổng hợp lý thuyết từ các nghiên cứu quốc tế như Joshi & Rahman (2015), Gleim và cộng sự (2013), Liobikienė & Bernatonienė (2017), Liang và cộng sự (2019), Choi & Johnson (2019). Sản phẩm xanh được xác định là sản phẩm thân thiện với môi trường, không độc hại, có thể tái chế hoặc sử dụng bao bì tối giản.
  • Quy trình ra quyết định mua hàng: Dựa trên mô hình 5 giai đoạn của Kotler & Armstrong (2011) và lý thuyết hành vi dự định mở rộng, phân tích khoảng cách giữa thái độ/ý định và hành vi mua thực tế.
  • Quy chuẩn nhãn năng lượng: Dựa theo hướng dẫn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN, 2013) và quy định của Bộ Công Thương về nhãn xác nhận ("Ngôi sao năng lượng Việt") và nhãn so sánh (từ 1 sao đến 5 sao).

Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, dữ liệu môi trường từ Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Duy Tiên, Ban Quản lý môi trường phường Hoàng Đông, phường Đồng Văn, phường Tiên Nội cùng các tài liệu sách báo, tạp chí chuyên ngành.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra xã hội học bằng bảng hỏi tích hợp phỏng vấn trực tiếp tại hộ gia đình và điều tra trực tuyến (sử dụng Microsoft Forms Office 365) với cỡ mẫu hợp lệ đạt $N = 120$ người dân đại diện cho 120 hộ gia đình tại 3 địa bàn khảo sát.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Dữ liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 20 / SPSS 26 và Microsoft Excel. Thang đo sử dụng định dạng Likert 5 mức độ.
  • Kỹ thuật thống kê: Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (ngưỡng chấp nhận $\alpha \ge 0.60$ và hệ số tương quan biến - tổng $\ge 0.30$), phân tích hệ số tương quan Pearson ($r$) và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression) nhằm kiểm định mối quan hệ giữa 7 nhóm nhân tố độc lập với biến phụ thuộc hành vi mua hàng xanh, đồng thời kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF < 10).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng xanh

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận cốt lõi về tiêu dùng xanh, sản phẩm xanh, quá trình ra quyết định mua sắm xanh và các công cụ quản lý như nhãn năng lượng. Bên cạnh đó, tác giả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm liên quan:

  • Nghiên cứu quốc tế: Nghiên cứu của Ronie Irawan & Dahlia Darmayanti (2012) tại Jakarta (Indonesia) chỉ ra vai trò của sự quan tâm và nhận thức trách nhiệm môi trường; nghiên cứu của Aindrila Biswas (2016) tại Ấn Độ về mức độ sẵn sàng chi trả cho sản phẩm có chứng chỉ xanh; nghiên cứu của Beibei Yue và cộng sự (2020) tại Trung Quốc về vai trò trung gian của mối quan tâm môi trường và tác động điều tiết của độ nhạy cảm về giá.
  • Nghiên cứu trong nước: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Gia Thọ (2019) về chính sách tiêu dùng xanh; nghiên cứu của Hồ Huy Tưu, Nguyễn Văn Ngọc, Đỗ Phương Linh (2018) tại TP. Nha Trang áp dụng mô hình TPB mở rộng; nghiên cứu của Hoàng Trọng Hùng, Huỳnh Thị Thu Quyên, Huỳnh Thị Nhi (2018) tại TP. Huế sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.

Chương 2: Thực trạng hành vi tiêu dùng xanh của người dân trên địa bàn thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Duy Tiên năm 2020 (diện tích 120,92 $\text{km}^2$, dân số 137.150 người, mật độ 1.134 người/$\text{km}^2$, tốc độ tăng trưởng kinh tế 2,3%, cơ cấu công nghiệp - xây dựng chiếm 73,6%, dịch vụ chiếm 24,3%, nông lâm nghiệp 2,1%, thu nhập bình quân 50,8 triệu đồng/người/năm, 5 khu công nghiệp lớn gồm Đồng Văn I, II, III, IV và Hòa Mạc).

Kết quả điều tra thực nghiệm trên mẫu $N = 120$ ghi nhận các phát hiện chính:

  • Cơ cấu mẫu điều tra: Nhóm tuổi 18–35 chiếm 29%, nhóm 36–55 chiếm 34%, nhóm trên 55 tuổi chiếm 37%. Quy mô gia đình 1–4 người chiếm 68%, từ 5 người trở lên chiếm 32%. Mức thu nhập hộ gia đình trên 20 triệu đồng/tháng chiếm tỷ trọng cao nhất (33%), từ 15–20 triệu đồng chiếm 28%, từ 7–14 triệu đồng chiếm 22%, dưới 7 triệu đồng chiếm 9%, và 8% không ước tính được do kinh doanh tự do.
Mức thu nhập (triệu đồng/tháng) Phường Đồng Văn (hộ) Phường Hoàng Đông (hộ) Xã Trác Văn (hộ) Tổng số (hộ) Tỷ lệ (%)
Dưới 7 1 2 8 11 9,17%
Từ 7 – 14 3 9 14 26 21,67%
Từ 15 – 20 10 14 10 34 28,33%
Trên 20 22 13 5 40 33,33%
Không ước tính được 4 2 3 9 7,50%
Tổng cộng 40 40 40 120 100%
  • Nhận thức về vấn đề môi trường và sản phẩm xanh: 100% người được hỏi nhận biết được ít nhất một vấn đề môi trường, trong đó ô nhiễm là mối quan tâm hàng đầu (35%), tiếp đến là sự nóng lên toàn cầu (28%), rác thải nhựa (10%) và quản lý chất thải (9%). Tỷ lệ nhận biết khái niệm sản phẩm xanh tại Đồng Văn đạt 90%, Hoàng Đông đạt 84%, Trác Văn đạt 80%. Tuy nhiên, chỉ có 59% người trả lời hiểu đúng bản chất toàn diện của sản phẩm xanh. Kênh tiếp cận thông tin chủ yếu qua mạng xã hội (45%), tổ chức phi chính phủ (15%), báo chí (13%) và truyền hình (12%), còn 15% hoàn toàn không có thông tin.
  • Tiêu chí lựa chọn sản phẩm và rào cản: 85% người tiêu dùng đánh giá tiêu dùng sản phẩm xanh là quan trọng, nhưng thực tế chỉ có 52% có hành vi mua sản phẩm xanh. Thứ tự ưu tiên khi mua sắm gồm: Sức khỏe (64%), Giá cả (56%), Chất lượng (53%), Nguồn gốc xuất xứ (42%), Tiết kiệm năng lượng (25%) và Thân thiện môi trường (25%). Rào cản không mua sản phẩm xanh bao gồm: thiếu ý thức (39%), thiếu sản phẩm sẵn có trên thị trường (23%), thiếu thông tin sản phẩm và điểm bán (15%), giá thành cao (10%), lo ngại gian lận nhãn mác (6%).
Tiêu chí mua sắm Lượt ưu tiên 1 Lượt ưu tiên 2 Lượt ưu tiên 3 Tổng lượt lựa chọn Tỷ lệ người chọn (%)
Sức khỏe 40 38 38 116 64%
Giá cả 27 34 39 100 56%
Chất lượng 37 37 21 95 53%
Nguồn gốc xuất xứ 22 24 30 76 42%
Khả năng tiết kiệm năng lượng 13 13 20 46 25%
Thân thiện môi trường 14 14 18 46 25%
  • Thói quen sử dụng tại hộ gia đình: 90% nhận thức được tác hại của túi nilon, 60% có tái sử dụng và 40% còn thói quen tiêu hủy bằng cách đốt lẫn rác thải. Tỷ lệ sở hữu và thực hành tiết kiệm điện: tủ lạnh (sở hữu 100%, 95% có thực hành tiết kiệm), bình nóng lạnh (sở hữu 91%, 89% thực hành tiết kiệm), máy giặt (sở hữu 74%), điều hòa nhiệt độ (sở hữu 50%, 31% thực hành tiết kiệm). Đối với tài nguyên nước, 52% chưa hiểu rõ mối liên hệ giữa tiết kiệm nước và tiết kiệm điện; 49% có tái sử dụng nước sinh hoạt. Về mức độ sẵn sàng thay đổi hành vi: 48% sẵn sàng, 35% thay đổi nếu có điều kiện phù hợp, 17% không muốn thay đổi.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh của người dân trên địa bàn thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Dựa trên kết quả định lượng, tác giả xây dựng 3 nhóm giải pháp và bài học kinh nghiệm quốc tế:

  1. Đối với người tiêu dùng: Chủ động trau dồi thông tin qua các phương tiện truyền thông và cổng thông tin doanh nghiệp; ưu tiên lựa chọn các sản phẩm có chứng nhận an toàn, thân thiện môi trường; nâng cao ý thức tự giác và tham gia phát động các phong trào cơ sở ("Nói không với túi nilon", "Tái chế giấy, chai lọ", "Sử dụng túi vải khi đi chợ", "Sử dụng ống hút giấy tại văn phòng").
  2. Đối với doanh nghiệp: Đầu tư cải tiến chất liệu, công dụng, độ bền và kiểu dáng bao bì xanh; bổ sung các chứng nhận kiểm định an toàn; mở rộng mạng lưới phân phối về các chợ truyền thống và cửa hàng bán lẻ khu dân cư bên cạnh hệ thống siêu thị lớn (Vinmart, Lan Chi mart); áp dụng chính sách giá linh hoạt và khuyến mãi trong ngành F&B (chiết khấu/upsize khi mang bình cá nhân, đặt cọc bao bì tái sử dụng, dùng hộp bã mía, ống hút cỏ); triển khai truyền thông số qua video ngắn, infographic và KOLs.
  3. Đối với chính quyền địa phương: Tăng cường tuyên truyền qua Đài truyền thanh - truyền hình Hà Nam, Báo Hà Nam online, Cổng thông tin điện tử UBND thị xã Duy Tiên; phổ biến kiến thức về nhãn năng lượng và nhãn sinh thái; UBND thị xã phối hợp cùng Công ty Cổ phần Cảnh quan đô thị Duy Tiên ban hành quy định bắt buộc phân loại rác tại nguồn thành 3 nhóm (rác hữu cơ dễ phân hủy, rác tái chế, rác còn lại) kèm cơ chế nhắc nhở và xử phạt vi phạm; tham khảo kinh nghiệm triển khai chính sách mua sắm công xanh từ Hoa Kỳ (Sắc lệnh 13101), Liên minh Châu Âu (GPP) và Nhật Bản (Luật Thúc đẩy Mua sắm Xanh 2001).

Kết quả và đóng góp

Kết quả kiểm định thống kê và mô hình hồi quy

Quy trình kiểm định thang đo cho thấy các biến quan sát đều đạt độ tin cậy. Biến Nhận thức trách nhiệm môi trường (TNMT) sau khi loại bỏ biến quan sát không phù hợp (TNMT4) đã tăng hệ số Alpha từ 0,638 lên 0,764. Biến Chính sách chính phủ (CSCP) đạt hệ số Alpha 0,552 (chấp nhận theo tiêu chuẩn của Hamid và cộng sự, 2013).

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đạt độ tương thích thống kê với kiểm định $F = 13,035$ ($p = 0,000 < 0,05$), hệ số $R^2 = 0,323$ và hệ số $R^2$ hiệu chỉnh đạt $0,298$, giải thích được 29,8% sự biến thiên của hành vi mua hàng xanh. Tất cả các hệ số VIF đều nhỏ hơn 10 (mức tương quan giữa các biến độc lập < 0,7), không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

Biến độc lập Ký hiệu Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa (B) Hệ số hồi quy chuẩn hóa ($\text{Beta}$) Giá trị thống kê $t$ Mức ý nghĩa ($p\text{-value}$) Hệ số VIF Kết luận giả thuyết
Nhận thức trách nhiệm môi trường TNMT 0,201 0,227 3,024 0,003 1,254 Chấp nhận ($p < 0,01$)
Mối quan tâm về môi trường QTMT 0,158 0,203 2,845 0,005 1,312 Chấp nhận ($p < 0,01$)
Nhận thức mức độ nghiêm trọng của vấn đề môi trường VDNT 0,239 0,176 2,581 0,011 1,189 Chấp nhận ($p < 0,05$)
Nhận thức hiệu quả của hành vi môi trường HQHV 0,115 0,135 2,213 0,029 1,205 Chấp nhận ($p < 0,05$)
Ảnh hưởng xã hội AHXH 0,069 0,119 1,892 0,061 1,411 Bác bỏ ($p > 0,05$)
Thái độ môi trường TDMT 0,075 0,069 1,031 0,305 1,356 Bác bỏ ($p > 0,05$)
Chính sách của chính phủ, chính quyền địa phương CSCP -0,018 -0,012 -0,154 0,878 1,178 Bác bỏ ($p > 0,05$)

Phương trình hồi quy chuẩn hóa xác lập: $$\text{HVMX} = 0,227 \times \text{TNMT} + 0,203 \times \text{QTMT} + 0,176 \times \text{VDNT} + 0,135 \times \text{HQHV}$$

Trong 4 nhân tố có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$), Nhận thức trách nhiệm môi trường ($\beta = 0,227$) có tác động mạnh nhất, tiếp đến là Mối quan tâm về môi trường ($\beta = 0,203$), Mức độ nghiêm trọng của vấn đề môi trường ($\beta = 0,176$) và Nhận thức hiệu quả hành vi ($\beta = 0,135$). Các biến Ảnh hưởng xã hội, Thái độ môi trường và Chính sách chính quyền không có tác động trực tiếp mang ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy đa biến.

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp học thuật: Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm định lượng về hành vi tiêu dùng xanh tại khu vực đô thị công nghiệp đang phát triển ở miền Bắc Việt Nam, kiểm định lại mức độ giải thích của các thang đo tâm lý - hành vi trong bối cảnh địa phương cụ thể.
  • Đóng góp thực tiễn: Làm rõ khoảng cách giữa nhận thức (85% coi trọng) và thực hành mua sắm (52% thực hiện), giúp các cơ quan quản lý nhà nước tại thị xã Duy Tiên và các doanh nghiệp phân phối xác định chính xác các điểm nghẽn để xây dựng chính sách truyền thông và xúc tiến bán hàng phù hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra các giới hạn nghiên cứu chính:

  • Quy mô mẫu: Cỡ mẫu khảo sát dừng lại ở mức $N = 120$ hộ gia đình, mang tính chất nghiên cứu bước đầu, tính đại diện cho toàn bộ địa bàn tỉnh còn hạn chế.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu mới chỉ tập trung tại 3 phường, xã thuộc thị xã Duy Tiên, chưa tiến hành so sánh đối chiếu với các huyện, thành phố khác có đặc thù kinh tế - xã hội khác biệt trong tỉnh Hà Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả đề xuất mở rộng kích thước mẫu khảo sát để nâng cao độ tin cậy và mở rộng địa bàn điều tra sang các đơn vị hành chính lân cận nhằm đánh giá sự khác biệt về thói quen tiêu dùng xanh giữa các vùng sinh thái, kinh tế khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Kinh tế môi trường, Quản lý tài nguyên, Quản trị kinh doanh: Tham khảo phương pháp xây dựng bảng hỏi Likert, quy trình làm sạch số liệu, kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích hồi quy đa biến trên SPSS.
  • Doanh nghiệp bán lẻ, sản xuất hàng tiêu dùng và F&B: Nắm bắt cơ cấu ưu tiên của người tiêu dùng đối với sức khỏe, giá cả và chất lượng; từ đó thiết lập chính sách định giá, bao gói và kênh phân phối phù hợp tại thị trường cấp huyện/thị xã.
  • Cán bộ quản lý môi trường và chính quyền địa phương: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng chương trình phân loại rác thải tại nguồn và các chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi tiêu dùng tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Những nhân tố nào có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến hành vi mua hàng xanh của người dân thị xã Duy Tiên? Trong mô hình hồi quy đa biến, có 4 nhân tố tác động tích cực có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) gồm: Nhận thức trách nhiệm môi trường ($\beta = 0,227$), Mối quan tâm về môi trường ($\beta = 0,203$), Nhận thức mức độ nghiêm trọng của vấn đề môi trường ($\beta = 0,176$) và Nhận thức hiệu quả của hành vi môi trường ($\beta = 0,135$).

2. Tại sao các yếu tố như Ảnh hưởng xã hội, Thái độ môi trường và Chính sách chính quyền không có ý nghĩa trong phương trình hồi quy? Mặc dù có tương quan đơn với hành vi mua xanh trong phân tích tương quan Pearson ($p < 0,05$), nhưng khi đưa vào mô hình hồi quy đa biến đồng thời, các biến này đạt giá trị $p > 0,05$ (lần lượt là $0,061$; $0,305$ và $0,878$), cho thấy tác động trực tiếp của chúng bị triệt tiêu hoặc được giải thích thông qua các biến tâm lý nội tại như trách nhiệm và mối quan tâm môi trường.

3. Tỷ lệ nhận thức đúng về sản phẩm xanh của người dân thị xã Duy Tiên đạt bao nhiêu và rào cản lớn nhất khi mua sắm là gì? Có 59% người tham gia khảo sát đưa ra câu trả lời chính xác về khái niệm sản phẩm xanh. Rào cản lớn nhất khiến người dân mua hàng hóa thông thường thay vì sản phẩm xanh là do thiếu ý thức (39%), tiếp theo là thiếu sự lựa chọn sẵn có trên thị trường (23%) và thiếu thông tin sản phẩm/cửa hàng (15%).

4. Khóa luận đề xuất phân loại rác thải tại hộ gia đình thị xã Duy Tiên thành những nhóm nào? Tác giả kiến nghị UBND thị xã Duy Tiên phối hợp với Công ty Cổ phần Cảnh quan đô thị Duy Tiên quy định phân loại rác thành 3 nhóm:

  • Nhóm 1: Rác thải hữu cơ dễ phân hủy (thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác động vật).
  • Nhóm 2: Rác thải có khả năng tái sử dụng, tái chế (giấy, nhựa, kim loại, cao su, nilon, thủy tinh).
  • Nhóm 3: Rác thải còn lại.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Kiều Anh đã phản ánh toàn diện thực trạng nhận thức và hành vi tiêu dùng xanh của người dân tại thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam thông qua khảo sát thực nghiệm 120 hộ gia đình. Kết quả định lượng chỉ ra rằng nhận thức trách nhiệm và mối quan tâm về môi trường là hai động lực quan trọng nhất thúc đẩy quyết định mua sản phẩm xanh, đồng thời làm rõ sự chênh lệch lớn giữa nhận thức tích cực và hành vi mua sắm thực tế. Các giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, gắn kết trách nhiệm giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp sản xuất - phân phối và chính quyền địa phương nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng đô thị sinh thái bền vững.