CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VE HANH VI TIEU DUNG XANH 1. Tiêu dùng xanh Khái niệm tiêu dùng xanh đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 ở Hoa Kỳ. Tiêu dùng xanh xuất hiện trong học thuật tiếp thị thông qua các tài liệu đã được đề cập đến như của Fisk (1974); Harper & Row, Henion và Kinnear (1976); Kardash WJ (1976). Ban đầu, các nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng năng lượng và các vấn đề ô nhiễm có liên quan đến một phạm vi hẹp trong các ngành công nghiệp, tập trung chủ yếu vào việc tái chế và tiết kiệm năng lượng, cũng như phản ứng của người tiêu dùng trong quảng cáo và thông tin sản phẩm.
Trong những năm 1980, sự quan tâm của người tiêu dùng đối với môi trường đã được chứng minh bởi cơ sở dữ liệu nghiên cứu theo thời gian, sự thành công với hướng dẫn cho người tiêu dùng xanh và sự tay chay của người tiêu dùng toàn cầu khi sử dụng các hợp chất Chlorofluorocarbon (CFC) gây thủng tầng ozone. Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) năm 2005 về tiêu dùng bền vững đã đưa ra khái niệm tiêu dùng bền vững bao gồm các đặc tính chung như sau: - Thỏa mãn các nhu cầu của con ngojdi; - Hướng tới chất lượng sống tốt nhờ các tiêu chuẩn sống tốt; - Chia sẻ các nguồn lực giữa nguồn lực và người nghèo; - Hành động có quan tâm tới các thế hệ tương lai; - Quan tâm đến tác động kê từ khi bắt đầu đến khi kết thúc tiêu dùng: - Hạn chế sử dụng nguồn lực, hạn chế sử dụng rác thải và ô nhiễm. Như vậy, tiêu dùng xanh được hiểu là một phần của tiêu dùng bền vững. Tiêu dùng xanh là những hành động mua hàng, sử dụng, thải loại trong đó người tiêu dùng cân nhắc trách nhiệm của bản thân đối với xã hội và môi trường bằng cách giảm thiéu tối đa tác động lên môi trường, đồng thời vẫn đáp ứng các nhu cầu và mong muốn cá nhân, bảo đảm chất lượng cuộc sống trong hoạt động sống - ăn uống — làm việc hàng ngày (Getgreen, 2012).
Tiêu dùng bền vững hiện nay là việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ có tác động tối thiêu lên môi trường, xã hội công bang và có hiệu quả kinh tế trong khi đáp ứng các nhu cầu cơ ban của con người trên toàn thé giới. Tiêu dùng bền vững là mục tiêu của tất cả mọi người, tất cả các ngành và tất cả các quốc gia, từ cá nhân đên các chính phủ và các tập đoàn đa quôc gia. Tiêu dùng bền vững được xây dựng trên quan điểm phát triển bền vững được đề cập và phô biến rộng rãi từ năm 1987 từ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Tương lai chung của chúng ta) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED — World Commission on Environment and Development) nay là Uy ban Brundtland. Báo cáo ghi rõ Phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Như vậy, tư tưởng cơ bản của tiêu dùng bền vững là đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của bản thân sao cho không tước mat khả năng đáp ứng các nhu cầu tiêu ding của các thế hệ mai sau. Cần hiểu rằng “tiêu dùng bền vững” không phải là “tiêu dùng ít hơn” mà là biết tiêu dùng hiệu quả hơn, tốt hơn và bớt sử dụng tài nguyên hơn. Điều này đặc biệt đúng cho người dân đang sống trong nghèo khô thường có nhu cầu gia tăng tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ. Sản phẩm xanh Trong nghiên cứu của Yatish và cộng sự (Joshi & Rahman, 2015), trước hết, về chức năng của một sản phâm, sản phẩm xanh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, sau đó, không gây tôn hại đến môi trường.
Sản phẩm này tốt hơn cho môi trường và ít tác động đến môi trường. Nó được làm từ vật liệu thân thiện với môi trường. Nó có thể tái chế và ít đóng gói hơn. Ví dụ, các sản phẩm xanh là: sản phẩm hữu cơ, tự nhiên, thiết bị điện tiết kiệm năng lượng, v.
Dựa trên đặc điểm sản xuất và nguyên liệu, Gleim định nghĩa rằng: “Sản phẩm xanh là sản phẩm được sản xuất quan tâm đến môi trường vật chat: không khí, nước và đất. Định nghĩa này kết hợp tất cả các khía cạnh của màu xanh như một chiến lược tiếp thị, không chỉ là một tập hợp các thành phần phụ được lựa chọn (ví dụ: tái chế, thu mua hữu cơ và tiêu thụ năng lượng) ”(Gleim và cộng sự, 2013). Theo Liobikiene và Bernatoniene (Liobikiené & Bernatoniené, 2017), các sản phẩm xanh có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh thái và sức khỏe con người ít hơn các sản phẩm thông thường. Ho chỉ ra các thuật ngữ “sản phẩm xanh”, “sản phẩm bền vững”, “sản pham thân thiện với môi trường” là tương tự và có thé thay thế cho nhau.
Thể hiện về thiết kế nhằm giảm tác động đến thiên nhiên, Liobikiene nói rằng các sản phẩm xanh được thiết kế để giảm mức sử dụng tài nguyên thiên nhiên cần thiết và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường trong vòng đời của các sản phẩm này. Tác giả làm rõ các yêu cầu chính đối với loại sản phẩm này là thành phần (hoặc vật liệu) phải không độc hại, không chứa hóa chất và thân thiện với môi trường (Liobikiene et al. Liang đưa ra một định nghĩa đơn giản và được chap nhận rộng rãi: “Các san phẩm xanh thường bén, không độc hại, được làm băng vật liệu tái chế hoặc đóng gói tối thiểu” (Liang và cộng sự, 2019). Tác giả này giải thích rõ ràng rằng các sản phẩm xanh và không xanh đều sử dụng năng lượng và tài nguyên, tạo ra sản phẩm phụ, cũng như phát thải trước và trong quá trình tiêu dùng của người tiêu dùng và cuối cùng là thải bỏ.
Vì vậy, màu xanh lá cây là khái niệm "tương đối", tùy thuộc vào quan điểm khác nhau của người tiêu dùng và điều kiện bối cảnh. Ông đưa ra một ví dụ rằng: một số nguoi có thể coi các thiết bị được dán nhãn tiết kiệm năng lượng là sản phẩm xanh, nhưng những người khác, với các tiêu chí khắt khe hơn dé đánh giá, vẫn cho rang những sản phẩm đó là gây ô nhiễm. Mua hàng xanh Trong tài liệu học thuật, “mua hàng xanh”, và “áp dụng sản pham xanh” được sử dụng dé chỉ hành vi mua vì môi trường (Joshi & Rahman, 2015). Có ba luồng khi các nghiên cứu ban đầu xác định mua hàng xanh.
Chúng dựa trên: 1) Phát triển bền vững, 2) Chiều hướng đạo đức và 3) Hành vi vì môi trường. Thứ nhất, mua xanh được giải thích dựa trên sự phát triển bền vững. Phát triển bền vững bao gồm hai phan: sản xuất xanh và tiêu dùng xanh. Khi tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ ngày càng tăng, tiêu dùng xanh quan tâm đến tác động môi trường của hành vi tiêu dùng.
Nó không nhằm mục đích giảm tiêu thụ mà nhằm giảm tác động tiêu cực của nó đối với môi trường, không làm xấu đi chất lượng môi trường (Liobikiené & Bernatoniené, 2017; Liobikiene et al. Trong bài báo của Moisander, tiêu dùng xanh xảy ra khi người tiêu dùng tính đến ảnh hưởng đến môi trường khi họ mua, sử dụng và thải bỏ hàng hóa hoặc sử dụng các dịch vụ xanh. Do đó, theo quan điểm này, Moisander định nghĩa mua hàng xanh là một bước của tiêu dùng xanh (Joshi & Rahman, 2015). Ngoài ra, không chỉ quan tâm đến tác động môi trường, Liobikiene còn cho biết thêm một chỉ tiết đó là giảm thiểu tác động gây ton hại đến sức khỏe con người (Liobikienẻ & Bernatonienẻ, 2017).
Thứ hai, mua xanh được định nghĩa trong bối cảnh của các hành vi vì môi trường. Ké từ những năm 1960, khi phong trào bảo vệ môi trường diễn ra (Choi & Johnson, 2019; Liobikiené & Bernatoniené, 2017), tiêu dùng xanh được coi là hành vi vì môi trường. Không chỉ giảm thiêu tác hại đối với môi trường đến mức 8 có thé, hành vi vì môi trường còn đạt được lợi ích cho môi trường. Theo Liang và các cộng sự, hành vi vì môi trường có hai thành phan: tránh ô nhiễm và mua sắm xanh.
Là một hành vi thụ động, tránh ô nhiễm tránh xa các sản phẩm gây ô nhiễm (tái chế, tái sử dụng, giảm thiểu), và thay đồi thực hành tiêu dùng hiện nay đối với hàng hóa gây ô nhiễm truyền thống. Mua hàng xanh là hành vi tích cực nhằm tìm kiếm các sản phẩm xanh, đưa lợi ích xanh vào quá trình quyết định tiêu dùng (Liang et al. Tiếp theo dòng này, Dooyoung Choi minh họa mua hàng xanh là hành vi vì môi trường “xảy ra khi người tiêu đùng mua các sản phẩm không gây ô nhiễm hoặc cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và có thể tái chế hoặc bảo tồn” (Choi & Johnson, 2019). Luong giải thích thứ ba về mua hàng xanh bao gồm khía cạnh đạo đức.
Hsui định nghĩa mua hàng xanh là một hành vi tự nguyện vì sự thân thiện với môi trường của sản xuất. So với việc mua các sản phẩm truyền thống, Yatish mô tả việc mua hàng xanh theo kế hoạch và là hoạt động mua có trách nhiệm đối với các sản phẩm không gây hại cho môi trường (Joshi & Rahman, 2015). Trong khi đó, Gleim so sánh người tiêu dùng xanh với người tiêu dùng không xanh khi giải thích về việc mua hàng xanh. Người tiêu dùng xanh là người coi trọng trách nhiệm của mình đối với xã hội bằng cách giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với sinh thái khi họ quyết định mua sản phẩm xanh.
Do đó, người tiêu dùng không sử dụng sản phâm xanh được chứng minh là người không quan tâm đến việc giúp đỡ môi trường khi các sản pham xanh thay thế có san (Gleim và cộng sự, 2013). Theo Yatish, hành vi mua hàng xanh là “một dạng hành vi ra quyết định có đạo đức phức tạp và được coi là một loại hành vi có trách nhiệm với xã hội. Là một người tiêu dùng có trách nhiệm với xã hội, người tiêu dùng xanh “tính đến hậu quả công cộng của việc tiêu dùng cá nhân của mình và cố gắng sử dung sức mua của mình dé mang lại thay đổi xã hội” (Joshi & Rahman, 2015). Tóm lại, trong nghiên cứu này: Sản phẩm xanh là sản pham quan tâm đến môi trường vật chat, không làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây hại cho môi trường và sinh vật sống, được làm từ vật liệu tái ché, không độc hại hoặc ít đóng gói (Liang và cộng sự, 2019).
Người tiêu dùng xanh là cá nhân mua các sản phẩm xanh.