Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 62.01) của tác giả Hoàng Thị Bảo Thoa, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Liên (cùng sự tham gia hướng dẫn của PGS. Vũ Anh Dũng), tập trung phân tích các yếu tố tác động đến quá trình chuyển hóa từ nhận thức, ý định sang hành vi tiêu dùng xanh thực tế.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu là vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu. Tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế nhanh đi kèm suy giảm tài nguyên thiên nhiên, gia tăng ô nhiễm môi trường và phát sinh nhiều vấn đề về an toàn thực phẩm. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chiến lược về tăng trưởng xanh (tháng 9/2012), trong đó nhiệm vụ trọng tâm là xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Tuy nhiên, các giải pháp kỹ thuật từ phía sản xuất không thể giải quyết triệt để nếu thiếu sự thay đổi trong việc lựa chọn, sử dụng và thải loại sản phẩm của người tiêu dùng (Fuchs và Lorek, 2005; Mont và Plepys, 2008).

Thực tế tại Việt Nam cho thấy tồn tại một khoảng cách lớn giữa ý định và hành vi mua sắm xanh: nhiều cá nhân có thái độ tích cực đối với môi trường nhưng không thực hiện hành vi mua sản phẩm thân thiện với môi trường trên thực tế. Về mặt học thuật, phần lớn các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và quốc tế thường áp dụng Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) hoặc Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) với ngầm định rằng ý định và hành vi có mối quan hệ tuyến tính đồng nhất chặt chẽ, bỏ qua vai trò của các biến điều tiết tình huống và nhận thức cá nhân. Do đó, luận án xác định khoảng trống nghiên cứu là kiểm định các nhân tố đóng vai trò điều tiết (thúc đẩy hoặc cản trở) mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh trong bối cảnh thị trường Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục đích tổng quát: Giải thích nguyên nhân dẫn đến khoảng cách giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam; xác định các nhân tố thúc đẩy hoặc cản trở mối quan hệ này; từ đó đề xuất các giải pháp quản trị cho doanh nghiệp và khuyến nghị chính sách cho Nhà nước nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh thực tế.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu tài liệu và xây dựng khung phân tích xác định các nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh.
    2. Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố này tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh.
    3. Mô tả thực trạng hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam.
    4. Khuyến nghị cho các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp các chính sách nhằm thúc đẩy tiêu dùng xanh ở Việt Nam.
    5. Đề xuất các định hướng nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực tiêu dùng xanh.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Ý định tác động thế nào đến hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng xanh Việt Nam?
  2. Thực trạng tiêu dùng xanh và hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam?
  3. Những nhân tố nào tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh hay những nhân tố nào có thể làm mạnh lên hay yếu đi ảnh hưởng của ý định đến hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam?
  4. Mức độ tác động của các nhân tố này tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người Việt Nam?
  5. Các giải pháp nào doanh nghiệp và chính phủ có thể sử dụng để thúc đẩy người tiêu dùng chuyển từ ý định sang hành vi tiêu dùng xanh thực tế?
  6. Giải pháp nào người tiêu dùng có thể thực hiện để là người tiêu dùng thông minh?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh – hai trung tâm kinh tế có mật độ dân cư và sức mua hàng hóa xanh lớn nhất cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu tổng thể thực hiện từ năm 2013 đến năm 2018; dữ liệu điều tra sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2016.
  • Phạm vi nội dung: Luận án xem xét mối quan hệ theo chiều tác động từ ý định tới hành vi tiêu dùng; hành vi tiêu dùng xanh được giới hạn trong việc mua và sử dụng các sản phẩm không gây hại cho môi trường hoặc sức khỏe con người.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các nhóm nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hành vi tiêu dùng xanh và mối quan hệ giữa ý định với hành vi:

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  1. Các nhân tố tác động tới hành vi tiêu dùng xanh: Anderson và Cunningham (1972), Webster (1975) nghiên cứu tác động của môi trường; Kinnear, Taylor và Ahmed (1974), Diamantopoulos và cộng sự (2003) nghiên cứu đặc trưng xã hội - nhân khẩu học; Roberts (1996), Straughan và Roberts (1999) nhấn mạnh vai trò của tâm lý tiêu dùng và chỉ số hiệu quả cảm nhận của khách hàng (PCE); Lynn và Oldenquist (1986), Osterhus (1997) chỉ ra rào cản từ chi phí tiêu dùng; Patrick Hartmann và Vanessa Apaolaza-Ibáñez (2011) nghiên cứu lợi ích tâm lý thương hiệu xanh; David Gadenne và cộng sự (2011) phân tích niềm tin môi trường và thái độ tiết kiệm năng lượng; Yong Joong Kim và cộng sự (2013) nghiên cứu cảm xúc trong lựa chọn nhà hàng thân thiện môi trường; Caroline Lundquist Noblet và cộng sự (2006) khảo sát quyết định lựa chọn phương tiện sinh thái.
  2. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh: Dodds, Monroe và Grewal (1991) chỉ ra ý định phản ánh sự sẵn lòng mua sắm; Ajzen (1991), Ajzen và Fishbein (2005) tổng kết hiện tượng "sự không thống nhất theo nghĩa đen" (nói và làm không đi đôi với nhau); Hui-hui Zhao và cộng sự (2012), Ping Wang và cộng sự (2013) khảo sát tại Trung Quốc khẳng định ý định là biến giải thích mạnh nhất cho hành vi bền vững; Philip Kotler (2008) mô tả tiến trình mua hàng gồm nhận thức nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá, quyết định và hành vi sau mua.
  3. Các nhân tố điều tiết mối quan hệ giữa ý định và hành vi: Rylander và Allen (2001) phân chia thành nhân tố bên trong (nhận thức tính hiệu quả, độ nhạy cảm giá) và bên ngoài (xúc tiến của chính phủ, doanh nghiệp); Hines và cộng sự (1986), Kollmuss và Agyeman (2002) phân tích yếu tố hoàn cảnh và chính sách; Seyfang (2006), Byrne và cộng sự (1991), Davies (1995), Vermeir và Verbeke (2004, 2006) nhấn mạnh vai trò của mạng lưới cung ứng và sự sẵn có của sản phẩm; Young và cộng sự (2010) ghi nhận 30% người tiêu dùng Anh không chuyển ý định thành hành vi do sự bất tiện khi mua hàng; Qinghua Zhu và cộng sự (2012) dùng hồi quy phân cấp chứng minh tính thuận tiện khi mua hàng có vai trò điều tiết trung gian; Ellen, Weiner và Cobb-Walgren (1991), Thomas Failla và Gopalakrishna (2014) chứng minh nhận thức hiệu quả (PCE) củng cố chuyển hóa ý định thành hành động.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tác giả điểm lại các công trình trong nước: nghiên cứu của TS. Vũ Anh Dũng, Nguyễn Thu Huyền, Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2012) về "Mô hình giả định các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng xanh"; Vũ Anh Dũng (2015) về cơ sở hạ tầng logistics và chuỗi cung ứng xanh; Trần Triệu Khải (2015) về hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Đà Nẵng; Nguyễn Kim Nam (2015) về ý định tiêu dùng thực phẩm hữu cơ; Nguyễn Bích Ngọc và cộng sự (2015) về tiêu dùng điện máy xanh tại TP.HCM; Nguyễn Hữu Thụ khảo sát 417 người dân Hà Nội bằng phần mềm SPSS 16 cho thấy tương quan thuận giữa nhận thức (2,34), thái độ (2,18) và hành động (2,20); TS. Nguyễn Vũ Hùng và cộng sự (2015) về phong cách sống và tiêu dùng xanh; Phạm Thị Lan Hương (2013) về ý định mua xanh của giới trẻ; và nghiên cứu tại Big C Huế (2013).

Khoảng trống luận án giải quyết

Trong khi kho dữ liệu ScienceDirect có 42.222 công trình và ProQuest Central có 102.142 công trình liên quan đến hành vi tiêu dùng xanh, cơ sở dữ liệu tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia Việt Nam ghi nhận số lượng công trình nghiên cứu về chủ đề này còn rất hạn chế. Các nghiên cứu trước chưa đặt trên một nền tảng lý thuyết đầy đủ và chưa kiểm định thực nghiệm vai trò điều tiết của các nhân tố bối cảnh và nhận thức (đặc biệt là Sự sẵn có của sản phẩm và Nhận thức về tính hiệu quả của hành vi) lên mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh tại thị trường Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản

  • Lý thuyết nền tảng: Luận án vận dụng Lý thuyết Hành vi Hợp lý (TRA - Fishbein và Ajzen, 1980) và Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB - Ajzen, 1985, 1991, 2005), kết hợp tham chiếu Lý thuyết Tổng quát về Đạo đức Marketing (Hunt và Vitell, 1986), Lý thuyết về Mức độ Liên quan (Zaichkowsky), và mô hình tiến trình ra quyết định của Philip Kotler (2008).
  • Khái niệm Sản phẩm xanh: Luận án tổng hợp định nghĩa từ Terra Choice (2010), Shamdasani và cộng sự (1993), Elkington và Makower (1988), Wasik (1996), xác định sản phẩm xanh là sản phẩm ngăn chặn, giảm thiểu tác động tiêu cực đến nước, không khí, đất và không gây hại hoặc tốt cho sức khỏe cộng đồng.
  • Khái niệm Tiêu dùng xanh: Kế thừa Peattie (1992, 2010), Sisira (2011), Mansvelt và Robbins (2011), Alfredsson (2004), Carrigan (2004), Harrison, Newholm và Shaw (2005), Petkus (1991), Gilg và cộng sự (2005), Nguyễn Thị Thu Huyền và Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2012), luận án xác định tiêu dùng xanh là hành vi thể hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường thông qua hai nhóm hành vi: chọn mua sản phẩm xanh và tối đa hóa hiệu quả sử dụng sản phẩm (tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, tái chế, tái sử dụng, xử lý rác an toàn).
  • Ý định và Hành vi tiêu dùng xanh: Ý định phản ánh sự sẵn sàng thực hiện hành vi (Ajzen, 2002); hành vi tiêu dùng xanh là chuỗi hành vi mua và sử dụng sản phẩm xanh trên thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp định tính: Thu thập, tổng hợp, phân tích và so sánh tài liệu thứ cấp về chính sách tăng trưởng xanh tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Liên minh Châu Âu).
  2. Phương pháp định lượng:
    • Mẫu khảo sát: Chọn mẫu thuận tiện và ngẫu nhiên với cỡ mẫu hợp lệ gồm $N = 468$ người tiêu dùng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian điều tra thực địa từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2016.
    • Thiết kế công cụ đo lường: Xây dựng phiếu điều tra sơ bộ (Phụ lục 2) và hoàn thiện phiếu điều tra chính thức (Phụ lục 3). Các thang đo sử dụng thang đo khoảng Likert (Bảng 2.2) với các biến: Hành vi tiêu dùng xanh, Ý định tiêu dùng xanh, Quan tâm tới môi trường, Thái độ với môi trường, Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức về tính hiệu quả (PCE), Sự nhạy cảm về giá, Sự sẵn có của sản phẩm, cùng các biến kiểm soát nhân khẩu học (giới tính, thu nhập).
    • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê để thực hiện:
      • Thống kê mô tả (tần số, điểm trung bình).
      • Đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích tương quan biến - tổng.
      • Kiểm định giá trị thang đo qua chỉ số KMO và kiểm định Bartlett's Test.
      • Phân tích tương quan tuyến tính Pearson và tương quan hạng Spearman's rho.
      • Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến và hồi quy kiểm định tác động điều tiết (Moderation analysis) thông qua các biến tương tác.
Thành phần nghiên cứu Quy cách thực hiện trong luận án
Không gian điều tra Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh
Thời gian khảo sát Tháng 2 đến tháng 4 năm 2016
Kích thước mẫu ($N$) 468 người tiêu dùng hợp lệ
Thang đo áp dụng Thang Likert đa bậc (mã hóa theo Bảng 2.3)
Kỹ thuật xử lý Cronbach's Alpha, KMO & Bartlett, Pearson & Spearman, Hồi quy OLS
Công cụ hỗ trợ Phần mềm thống kê chuyên ngành

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan các nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tiêu dùng xanh, bao gồm định nghĩa sản phẩm xanh, nhãn sinh thái, người tiêu dùng xanh và hành vi tiêu dùng. Tác giả điểm lại các lý thuyết cốt lõi giải thích hành vi (TRA, TPB, Lý thuyết Đạo đức Marketing của Hunt & Vitell, Lý thuyết về Mức độ Liên quan của Zaichkowsky) và mô hình hóa quá trình chuyển từ thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát sang ý định và hành vi thực tế (Hình 1.1 đến Hình 1.5).

Chương này cũng tổng quan kinh nghiệm quốc tế:

  • Trung Quốc: Ban hành chương trình nhãn sinh thái từ năm 1993, cải cách chương trình ghi nhãn "China Energy Label" năm 2005. Năm 2009 triển khai dự án "sản phẩm năng lượng hiệu quả có lợi cho cộng đồng", chi hơn 16 tỷ nhân dân tệ đến cuối năm 2010 thúc đẩy 340 triệu máy điều hòa, 1 triệu xe và 360 triệu bóng đèn tiết kiệm năng lượng (tiết kiệm 22,5 tỷ kWh điện, 300.000 tấn dầu, giảm 14 triệu tấn khí thải $CO_2$ mỗi năm). Tháng 6/2008 cấm sử dụng túi nhựa mỏng, giúp giảm 2/3 lượng sử dụng túi nhựa và tiết kiệm 2,4 triệu tấn dầu hàng năm.
  • Nhật Bản: Ban hành Luật thúc đẩy mua sắm xanh công cộng năm 2001 (yêu cầu 100% cơ quan chính phủ và chính quyền tại 47 tỉnh, 12 thành phố thực hiện); ban hành Luật Tái chế bao bì đóng gói năm 1995 (Containers/Packaging Recycling Act); thành lập Mạng lưới Mua sắm Xanh (Green Purchasing Network - GPN) năm 1996 bởi Bộ Môi trường. Đến năm 2003, 52% nhà cung cấp ghi nhận doanh số sản phẩm xanh tăng, quy mô thị trường sản phẩm xanh đạt 50 nghìn tỷ Yên.
  • Hàn Quốc: Triển khai chương trình dán nhãn môi trường từ năm 1992 và xây dựng hệ thống mua sắm xanh công cộng.

Từ việc phân tích khoảng trống nghiên cứu, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu (Hình 1.6) đặt trọng tâm vào tác động điều tiết của Nhận thức về tính hiệu quả (PCE) và Sự sẵn có của sản phẩm lên mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu 3 bước: xây dựng khung phân tích, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp quy, cơ sở dữ liệu quốc tế (ScienceDirect, ProQuest) và dữ liệu quốc gia. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp được triển khai qua phiếu điều tra với quy trình chọn mẫu tại Hà Nội và TP.HCM ($N = 468$). Chương này thiết lập hệ thống thang đo (Bảng 2.1), quy cách thang đo Likert (Bảng 2.2), bảng mã hóa biến (Bảng 2.3) và các công thức phân tích thống kê định lượng phục vụ kiểm định mô hình.

Chương 3: Thực trạng tiêu dùng xanh và các nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm từ phân tích tài liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp:

  • Thực trạng nhận thức: Tỷ lệ người tiêu dùng biết đến khái niệm tiêu dùng xanh (Bảng 3.1) và mức độ tiếp cận nhãn sinh thái tại Việt Nam còn thấp.
  • Đánh giá thang đo: Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và tương quan biến - tổng cho thang đo Hành vi tiêu dùng xanh (Bảng 3.3), Quan tâm tới môi trường (Bảng 3.5), Nhận thức về tính hiệu quả, Sự nhạy cảm về giá, Sự sẵn có của sản phẩm (Bảng 3.4), Thái độ với môi trường và Chuẩn mực chủ quan (Bảng 3.6). Kết quả phân tích KMO và Bartlett's Test (Bảng 3.7) xác nhận tính thích hợp của cấu trúc dữ liệu.
  • Phân tích tương quan và hồi quy:
    • Tồn tại mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh (Bảng 3.8 theo Pearson và Bảng 3.9 theo Spearman's rho).
    • Kết quả hồi quy tuyến tính (Bảng 3.10 và Bảng 3.11) khẳng định ý định tác động tích cực đến hành vi tiêu dùng xanh.
    • Phân tích tác động điều tiết chứng thực rằng Sự sẵn có của sản phẩm và Nhận thức về tính hiệu quả của hành vi (PCE) có tác động điều tiết có ý nghĩa, làm gia tăng cường độ chuyển hóa từ ý định sang hành vi thực tế.
    • Phân tích biến nhân khẩu học: Kiểm định sự khác biệt giữa nam và nữ về giá trị trung bình (Bảng 3.12), tương quan Pearson (Bảng 3.13) và Spearman (Bảng 3.14); kiểm định tác động của mức thu nhập lên mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh (Bảng 3.15).
Bảng dữ liệu chính trong Chương 3 Nội dung thống kê và kiểm định
Bảng 3.1 Tỷ lệ người tiêu dùng biết đến khái niệm tiêu dùng xanh
Bảng 3.2 Điểm trung bình chung của các nhân tố nghiên cứu
Bảng 3.3 & 3.5 Tương quan biến - tổng của thang đo Hành vi và Quan tâm môi trường
Bảng 3.4 & 3.6 Kết quả kiểm định thang đo PCE, Giá, Sự sẵn có, Thái độ, Chuẩn mực
Bảng 3.7 Phân tích KMO và Bartlett's Test mối quan hệ ý định - hành vi
Bảng 3.8 & 3.9 Phân tích tương quan Pearson và Spearman's rho (Ý định ➔ Hành vi)
Bảng 3.10 & 3.11 Hồi quy tuyến tính các nhân tố tác động tới mối quan hệ ý định - hành vi
Bảng 3.12 - 3.14 So sánh giá trị trung bình và hệ số tương quan theo nhóm giới tính
Bảng 3.15 Tác động của thu nhập đến mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh

Chương 4: Bàn luận kết quả nghiên cứu và kiến nghị

Chương 4 tổng hợp kinh nghiệm chính sách quốc tế (Bảng 4.1 tóm tắt chính sách tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ) và thảo luận sâu các kết quả khảo sát thực tế tại Việt Nam. Trên cơ sở thực chứng, tác giả xây dựng 3 nhóm đề xuất, kiến nghị:

  1. Kiến nghị đối với doanh nghiệp: Mở rộng độ bao phủ kênh phân phối và điểm bán lẻ nhằm tăng sự sẵn có của sản phẩm; tối ưu hóa trưng bày, gắn nhãn xanh rõ ràng; xây dựng thông điệp marketing minh bạch để củng cố nhận thức của người tiêu dùng về hiệu quả môi trường của sản phẩm.
  2. Kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về tiêu chuẩn sản phẩm xanh; đẩy mạnh chính sách mua sắm công xanh; hỗ trợ ưu đãi thuế, phí cho doanh nghiệp sản xuất xanh; triển khai các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng.
  3. Kiến nghị đối với người tiêu dùng: Nâng cao tinh thần trách nhiệm cá nhân, chủ động tìm kiếm thông tin về nhãn sinh thái, thực hành lối sống tiết kiệm tài nguyên và sử dụng hợp lý sản phẩm.

Chương này cũng chỉ ra các hạn chế của đề tài và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý thuyết

  • Luận án bổ sung vào hệ thống lý thuyết về hành vi người tiêu dùng nói chung và tiêu dùng xanh nói riêng bằng việc chứng thực thực nghiệm hai yếu tố điều kiện quan trọng có vai trò điều tiết, thu hẹp khoảng cách giữa ý định và hành vi: Sự sẵn có của sản phẩm xanh và Nhận thức về tính hiệu quả của hành vi tiêu dùng xanh (PCE).
  • Kết quả giải thích rõ nguyên nhân vì sao người tiêu dùng có thái độ ủng hộ môi trường và có ý định tiêu dùng nhưng không chuyển hóa thành hành vi mua thực tế nếu thiếu sự hỗ trợ của các điều kiện bối cảnh và niềm tin vào hiệu quả hành vi.
  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận, kiểm định độ tin cậy và giá trị của bộ thang đo tiêu dùng xanh trong điều kiện thực tiễn thị trường đang phát triển tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm khảo sát ($N = 468$) về thực trạng tiêu dùng xanh tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, bổ sung vào kho dữ liệu nghiên cứu khoa học công nghệ trong nước.
  • Cung cấp cơ sở khoa học cho các doanh nghiệp xây dựng chiến lược marketing hỗn hợp: phân phối sản phẩm xanh tại các cửa hàng tiện ích, tăng độ phủ điểm bán, tăng cường nhãn mác minh chứng chất lượng, và truyền thông cụ thể về lợi ích môi trường để thuyết phục người mua.
  • Cung cấp luận cứ thực chứng để các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chương trình hành động thúc đẩy Chiến lược Tăng trưởng xanh, hoàn thiện cơ chế dán nhãn sinh thái và đẩy mạnh mua sắm xanh trong khu vực công.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung luận án, các hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu gồm:

  • Hạn chế về phạm vi mẫu: Nghiên cứu chỉ tập trung thu thập dữ liệu tại hai đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh với phương pháp chọn mẫu phi xác suất/thuận tiện kết hợp ngẫu nhiên, chưa bao phủ khu vực nông thôn và các đô thị vừa và nhỏ.
  • Hạn chế về nhóm sản phẩm: Luận án tiếp cận hành vi tiêu dùng xanh theo nghĩa tổng quát (chủ yếu tập trung vào thực phẩm và hàng tiêu dùng thông thường), chưa tách biệt phân tích chuyên sâu cho từng nhóm ngành hàng cụ thể (như điện gia dụng xanh, phương tiện sinh thái hay vật liệu xây dựng xanh).
  • Định hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô mẫu sang các tỉnh thành khác để nâng cao tính đại diện cho toàn bộ người tiêu dùng Việt Nam.
    • Đi sâu kiểm định mô hình đối với từng danh mục sản phẩm xanh đặc thù.
    • Bổ sung thêm các biến điều tiết tiềm năng khác như sự tin tưởng vào chứng nhận nhãn xanh, rào cản chi phí cơ hội, và áp lực từ chuẩn mực xã hội nhóm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên ngành Quản trị kinh doanh, Marketing, Kinh tế môi trường: Tham khảo khung phân tích kiểm định tác động điều tiết (Moderation analysis) dựa trên lý thuyết TPB/TRA, cấu trúc bảng hỏi, và quy trình phân tích độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha, KMO, hồi quy).
  • Các nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Tham khảo các số liệu thực trạng nhận thức của người tiêu dùng và tổng hợp chính sách quốc tế (Chương 1 và Chương 4) để hoàn thiện tiêu chuẩn nhãn sinh thái và quy chế mua sắm xanh công cộng.
  • Nhà quản trị marketing và Doanh nghiệp sản xuất, phân phối hàng tiêu dùng: Vận dụng trực tiếp các phát hiện về biến "Sự sẵn có của sản phẩm" và "Nhận thức hiệu quả" để thiết kế hệ thống phân phối bán lẻ và thông điệp truyền thông sản phẩm xanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng quy mô mẫu khảo sát và phạm vi địa bàn nào?

Luận án tiến hành khảo sát thực địa trên mẫu hợp lệ gồm 468 người tiêu dùng tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2016.

2. Hai nhân tố điều kiện quan trọng nào được chứng minh có vai trò điều tiết mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh?

Kết quả kiểm định thực nghiệm của luận án khẳng định Sự sẵn có của sản phẩm xanh (Product Availability) và Nhận thức về tính hiệu quả của hành vi tiêu dùng xanh (Perceived Consumer Effectiveness - PCE) là hai nhân tố có tác động điều tiết, giúp củng cố và thúc đẩy quá trình chuyển biến từ ý định sang hành vi mua sắm xanh thực tế.

3. Tiêu dùng xanh được định nghĩa như thế nào trong khuôn khổ luận án?

Tiêu dùng xanh được tác giả định nghĩa là hành vi thể hiện trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường thông qua hai hành vi chủ yếu: chọn mua các sản phẩm thân thiện với môi trường (sử dụng ít năng lượng hoặc có khả năng tái chế, không gây hại cho sức khỏe) và tối đa hóa hiệu quả sử dụng sản phẩm (tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, xử lý rác thải an toàn).

4. Kết quả nghiên cứu trước đây tại Hà Nội của tác giả Nguyễn Hữu Thụ được luận án điểm lại như thế nào?

Luận án trích dẫn kết quả khảo sát 417 người dân Hà Nội (độ tuổi 18–45) của Nguyễn Hữu Thụ sử dụng thang đo 3 bậc, cho thấy điểm nhận thức tích cực đạt 2,34, thái độ ít tích cực đạt 2,18, hành động ít tích cực đạt 2,20 (tổng hợp chung đạt mức 2,24). Nghiên cứu này ghi nhận tương quan thuận giữa nhận thức và thái độ ($r = 0,63$; $p < 0,05$), giữa nhận thức và hành động ($r = 0,53$; $p < 0,05$), và giữa thái độ và hành động ($r = 0,42$; $p < 0,05$).

5. Kinh nghiệm thúc đẩy tiêu dùng xanh của Nhật Bản và Trung Quốc được luận án ghi nhận qua các số liệu nào?

  • Tại Trung Quốc: Chương trình dán nhãn sinh thái từ năm 1993; dự án tiết kiệm năng lượng năm 2009 với ngân sách trên 16 tỷ nhân dân tệ đã thúc đẩy 340 triệu điều hòa, 1 triệu xe và 360 triệu bóng đèn tiết kiệm điện; lệnh cấm túi nhựa mỏng tháng 6/2008 giúp giảm 2/3 lượng túi nhựa tiêu thụ.
  • Tại Nhật Bản: Ban hành Luật thúc đẩy mua sắm xanh công cộng năm 2001 áp dụng cho 100% cơ quan trung ương và địa phương; thành lập Mạng lưới Mua sắm Xanh (GPN) năm 1996; quy mô thị trường sản phẩm xanh trong nước ước tính đạt 50 nghìn tỷ Yên (theo khảo sát năm 2003).

Kết luận

Luận án của tác giả Hoàng Thị Bảo Thoa (2017) đã giải quyết vấn đề khoảng cách giữa nhận thức, ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người dân tại các đô thị Việt Nam. Bằng việc kết hợp khung lý thuyết TPB/TRA với phân tích thực chứng trên mẫu 468 người tiêu dùng tại Hà Nội và TP.HCM, công trình chứng minh vai trò điều tiết của sự sẵn có của sản phẩm và nhận thức về tính hiệu quả của hành vi. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách tăng trưởng xanh và thiết lập chiến lược phân phối, truyền thông sản phẩm xanh của các doanh nghiệp.