CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm TNXH Khái niệm TNXH được đề cập lần đầu tiên bởi Bowen (1953), trong tác phẩm “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen), qua đó, ông đề cập rằng “người quản lý doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh ngoài việc không làm tổn hại đến xã hội còn phải có lòng từ thiện và phải bồi thường cho những thiệt hại doanh nghiệp gây ra cho người lao động, nhà cung cấp”. Từ đó, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Hiểu một cách tổng quát, TNXH là khái niệm đề cập “những lợi ích dài hạn, tuân thủ pháp luật, tình nguyện, và vượt ra khỏi sự trông đợi của xã hội” (Anh và Nghĩa, 2020).
Trong khi đó, Liên minh Châu Âu (2010) nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm bốn khía cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường, với thị trường và người tiêu dùng, với người lao động, và với cộng đồng. Cùng với việc phát triển mô hình về TNXH, Carroll (1991) cho rằng CSR là một khái niệm liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp về mặt pháp lý, kinh tế, đạo đức và những khía cạnh khác trong xã hội mà doanh nghiệp được mong đợi sẽ thực hiện trong một thời điểm nhất định. Cũng theo Carroll (1991), học giả này đã phát triển mô hình kim tự tháp CSR về TNXH, với bốn thành phần tạo nên CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện (thực chất, đây là yêu cầu tuân thủ của doanh nghiệp). Trong đó, tầng cuối cùng của tháp CSR là trách nhiệm kinh tế, phản ảnh rằng động cơ của doanh nghiệp về căn bản vẫn là việc theo đuổi các mục tiêu lợi nhuận.
Dựa vào trách nhiệm kinh tế, doanh nghiệp sẽ triển khai thực hiện các trách nhiệm khác. Nằm trên trách nhiệm kinh tế là bậc thang trách nhiệm pháp lý. Bậc thang này phản ánh kỳ vọng của xã hội đối với việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật khi theo đuổi mục 11 tiêu kinh tế. Trên bậc thang trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm đạo đức, phản ánh việc TNXH của DN sẽ được đánh giá qua việc doanh nghiệp có thực hiện những hoạt động được xã hội kỳ vọng, hoặc liệu doanh nghiệp có thực hiện những hoạt động vi phạm đạo đức, bị xã hội lo ngại không.
Tầng trên cùng của tháp CSR là trách nhiệm từ thiện, bao gồm những cam kết của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy sự thịnh vượng của toàn xã hội. Với bối cảnh Việt Nam, có thể hiểu tổng quát, TNXH là một khái niệm liên quan đến những trách nhiệm của doanh nghiệp với các đối tượng chủ thể khác trong xã hội, như người lao động, quốc gia, khách hàng, v.v… (Nguyen và cộng sự, 2018), và được hiểu như “sự cam kết của DN trong ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của khách hàng, nhà cung ứng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng, môi trường. Theo đó, trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh, có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của DN” (Thành và cộng sự, 2019). Nội dung của TNXH của doanh nghiệp TNXH của doanh nghiệp có thể cụ thể hóa như sau: - Bảo vệ môi trường: phát triển bền vững mà không làm tác động và làm tổn hại đến môi trường, điều kiện tự nhiên.
- Đóng góp cho cộng đồng và xã hội: đóng thuế đầy đủ và trung thực, thực hiện các công trình công cộng, từ thiện, an sinh xã hội khác - Thực hiện tốt trách nhiệm với các đối tác: bao gồm việc đảm bảo tuân thủ đúng hợp đồng và các điều khoản đã ký kết, bảo đảm lợi ích cho khách hàng thông qua việc cung cấp các sản phẩm tốt nhất cho khách hàng, đảm bảo quyền lợi cho người lao động thông qua việc tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, đảm bảo thu nhập, đảm bảo các chính sách phúc lợi tốt và ổn định, đảm bảo người lao động được học tập và đào tạo để phát triển chuyên môn; đảm bảo lợi ích cho cổ đông và nhà đầu tư. Như vậy có thể thấy rằng, đối với từng chủ thể, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đều được thực hiện thông qua một 12 hoặc nhiều các trách nhiệm về: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Các trách nhiệm này được thực hiện song song và có tác động đến nhau, không thể tách rời. Hiện nay, TNXHDN đang trở thành một việc “cần làm” đối với các doanh nghiệp nhằm giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Việc thực hiện tốt TNXH chính là tạo sự khác biệt trong cạnh tranh. Thực hiện TNXHDN là một trong những nền tảng vô cùng quan trọng cho việc phát triển bền vững của doanh nghiệp. Lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội a. Giảm chi phí, tăng năng suất Bằng cách ứng dụng những công nghệ thân thiện với môi trường, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí điện, nước.
Việc tăng cường xử lý nguồn chất thải nước và khí cũng có thể giúp doanh nghiệp tận dụng hoặc tái chế nguồn nguyên liệu, nhờ đó giảm chi phí nguyên vật liệu, hoặc những chi phí liên quan bệnh nghề nghiệp. Thay vào đó doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn chi đó để thực hiện tái đầu tư, nâng cao phúc lợi cho người lao động hoặc đóng góp cho xã hội. Tăng giá trị thương hiệu Giá trị thương hiệu của một công ty ngoài việc được đo lường thông qua giá trị tổng tài sản, lợi nhuận thường niên, bản quyền thương hiệu…còn được đo lường thông qua niềm tin, đánh giá của người tiêu dùng. Theo khảo sát của Niesen Holdings (Một công ty nghiên cứu thị trường và quảng bá toàn cầu) vào năm 2014, lấy ý kiến hơn 30.000 người tiêu dùng tại 60 quốc gia, đa phần người tiêu dùng đều sẵn sàng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp có cam kết phát triển cộng đồng và môi trường.
Riêng tại Việt Nam, 73% người được hỏi sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm và dịch vụ của công ty có cam kết phát triển cộng đồng và môi trường. Như vậy, khi một 13 công ty thực hiện các hoạt động CSR, dù là đối nội hay đối ngoại thì đều được cộng đồng đánh giá rất cao. Thu hút lao động có chất lượng, giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ việc, tăng mức độ gắn bó của người lao động Thực hiện trách nhiệm xã hội là một trong những yếu tố góp phần thu hút và giữ chân nguồn lao động. Có được những nhân viên có chất lượng đã khó nhưng việc níu chân các nhân viên này còn khó khăn hơn nhiều.
Chính vì vậy, một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp đó là việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt. Lợi ích dài hạn mà TNXHDN mang đến cho doanh nghiệp có thể kể đến là giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, giảm bớt tai nạn lao động, gia tăng sự hài lòng của nhân viên, nhờ đó cải thiện quan hệ trong công việc. Duy trì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Khi cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp ngày càng hướng đến sự phát triển và cạnh tranh gay gắt. Nhu cầu từ khách hàng ngày càng cao và xã hội có cái nhìn ngày càng khắt khe đối với doanh nghiệp thì các doanh nghiệp ngày càng hướng đến sự phát triển bền vững.
Sự phát triển bền vững đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng… 1. Một số bộ tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp a. Bộ quy tắc ứng xử BSCI BSCI (Business Social Compliance Initiative – Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh) Ra đời năm 2003 từ đề xướng của Hiệp hội Ngoại thương (FTA), bộ quy tắc này có mục đích thiết lập một diễn đàn chung cho các quy tắc ứng xử và hệ thống giám sát ở châu Âu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Bộ quy tắc này có 9 vấn đề chính gồm: (1) Tuân thủ luật liên quan 14 (2) Tự do hội đoàn và quyền thương lượng tập thể (3) Cấm phân biệt đối xử (4) Trả công lao động (5) Thời giờ làm việc (6) An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc (7) Cấm sử dụng lao động trẻ em (8) Cấm cưỡng bức lao động và các biện pháp kỷ luật (9) Các vấn đề an toàn và môi trường.
Bộ nguyên tắc CERES CERES (viết tắt của Coalition for Environmentally Responsible Economies – Liên minh vì nền kinh tế có trách nhiệm với môi trường) là một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Mỹ trong đó bao gồm rất nhiều các nhà đầu tư, các nhóm hoạt động vì môi trường, tôn giáo và lợi ích công cộng khác. Mục tiêu của liên minh này là nhằm thúc đẩy những chính sách đầu tư về phương diện môi trường, xã hội và tài chính. Lý thuyết trao đổi xã hội trong nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Là một lý thuyết trong lĩnh vực tâm lý học xã hội, thuyết trao đổi xã hội được xây dựng bởi Homans (1961), Blau (1964) và Emerson (1962, 1972), dựa trên các định hướng triết học và tâm lý với hai khía cạnh là thực dụng và chủ nghĩa hành vi. Trao đổi xã hội được hiểu như việc trao đổi các hoạt động cả hữu hình và vô hình liên quan tới lợi ích và chi phí giữa ít nhất hai người hoặc tổ chức.
Lý thuyết này nhằm lý giải các hành vi trong xã hội với giả định rằng hành vi của A sẽ là một trong những tác nhân thúc đẩy hành vi của B, và ngược lại, hành vi của B là một trong những tác nhân thúc đẩy hành vi của A (trong đó, A, B là các bên có liên quan). Ngày nay, lý thuyết này được vận dụng trong nhiều nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa nhân viên và tổ chức, hay trong lĩnh 15 vực marketing nhằm giải thích sự hài lòng của khách hàng, lòng trung thành của khách hàng, ý định mua sản phẩm. Cụ thể như nghiên cứu của Quang và cộng sự (2020) đã vận dụng lý thuyết này, qua đó phát hiện được rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng là vấn đề mà khách hàng ngày càng quan tâm.