CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 RAU CỦ QUẢ VÀ VẤN ĐỀ VSATTP Trong các loại thực phẩm thì rau (rau, củ, quả tươi) là loại thực phẩm quan trọng thứ hai sau gạo (Hoang và Nakayasu, 2006; Guillaume và cộng sự, 2012; VINASTAS, 2014), và là thực phẩm không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày với vai trò dinh dưỡng đặc biệt quan trọng. Rau cung cấp nhiều chất xơ vitamin, chất khoáng, có tính dược lý cao mà các thực phẩm khác không thể thay thế được. Nhiều quốc gia trên thế giới khuyến khích tiêu dùng sản phẩm rau xanh cho bữa ăn bổ dưỡng và khỏe mạnh (Wertheim-Heck và cộng sự, 2015; Dennis và cộng sự, 2016) và kéo dài tuổi thọ (Đỗ Kim Chung và Nguyễn Linh Trung, 2015). Ở TPHCM, mức tiêu thụ rau bình quân đầu người năm 2014 là 106 kg/năm (VINATAS, 2014), với tỷ lệ 63,5% rau ăn lá và 36,5% rau ăn củ và quả (Sở NN&PTNT, 2016).
Mặc dù là thực phẩm quan trọng và được tiêu thụ nhiều, nhưng rau lại là thực phẩm nguy hại nhất về VSATTP đối với người tiêu dùng. Để có vẻ ngoài bắt mắt dễ tiêu thụ, người trồng rau có xu hướng sử dụng quá mức cần thiết thuốc bảo vệ thực vật và các hóa chất độc hại (Hoi, 2010). Vì vậy mà người tiêu dùng ngày càng lo lắng về tính an toàn của rau mà họ tiêu dùng hàng ngày, đặc biệt là vấn đề dư lượng hóa chất tồn dư trong rau (Mergenthaler và cộng sự, 2009). Theo kết quả điều tra thị hiếu người tiêu dùng rau tại TPHCM của (Sở NN&PTNT, 2016) cho biết yếu tố mà người tiêu dùng quan tâm nhất khi chọn mua rau là yếu tố an toàn (chiếm 42,8%), sau đó là hình thức sản phẩm (24,8%), nguồn gốc sản phẩm (17,4%), và một số ít quan tâm đến giá cả (chiếm 15%).
Wertheim-Heck và cộng sự (2015) cũng nhận thấy kết quả tương tự rằng tính an toàn của rau là mối quan tâm lớn nhất hiện nay của người tiêu dùng Việt Nam. Khi thu nhập tăng, người tiêu dùng có xu hướng tiêu thụ những thực phẩm có chất lượng cao (Tian và Yu, 2013) và an toàn cho sức khỏe (Yin và cộng sự, 2017; Sirieix và cộng sự, 2011).2 THỊ TRƯỜNG RAT VÀ CÁC KÊNH BÁN LẺ Việt Nam đã thực hiện chương trình RAT từ năm 1995. Năm 2008 Bộ NN&PTNT ban hành Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN về Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau an toàn (RAT). Và từ đó đến nay đã có rất nhiều thay đổi chính sách nhằm cải thiện vấn đề VSATTP đối với nhóm hàng rau củ quả.
RAT đòi hỏi phải áp dụng quy trình sản xuất phù hợp, chi phí sản xuất cao hơn và do đó giá cao hơn. Tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu khiến RAT chưa có chỗ đứng trên thị trường không phải là do giá cao, mà do chưa tạo được niềm tin về chất lượng của RAT ở người tiêu dùng (Nguyễn Hồng Sơn, 2011; Võ Minh Sang, 2016). Phuong (2010) và Hai và cộng sự (2013) cho rằng người tiêu dùng lo ngại vì dư lượng hóa chất và nồng độ thuốc trừ sâu rất khó kiểm tra. Đây là một khía cạnh của vấn đề bất cân xứng thông tin trên thị trường.
Tại TPHCM, các kênh bán lẻ rau có thể chia thành hai nhóm: kênh truyền thống và hiện đại. Nhóm kênh truyền thống bao gồm: chợ chính thức, chợ cóc, và các cửa hàng nhỏ lẻ trong các khu dân cư. Các kênh hiện đại bao gồm: siêu thị lớn, siêu thị mini và các cửa hàng chuyên doanh RAT. Nếu rau tại các kênh truyền thống ít được kiểm tra giám sát về chất lượng và VSATTP, thì rau ở các kênh hiện đại được kiểm soát nghiêm ngặt hơn và do đó an toàn hơn.
Tuy vậy cho đến nay thì lượng rau bán lẻ tại các kênh hiện đại còn khá thấp, và chợ truyền thống vẫn là kênh bán lẻ thống trị thị trường rau củ quả nói chung. Sau rất nhiều nỗ lực về mặt chính sách, hệ thống phân phối RAT vẫn chiếm thị phần không đáng kể trên thị trường rau và cũng không lấy được lòng tin của người tiêu dùng (Hoi, 2010; Nguyễn Hồng Sơn, 2011). Theo thống kê của UBND TPHCM (2015), lượng tiêu thụ rau mỗi ngày tại các siêu thị và cửa hàng trên địa bàn TPHCM là 217 tấn, trong đó các đơn vị sản xuất rau của TPHCM chỉ cung ứng khoảng 23- 25%. Trong khi đó lượng nhập rau thường tại 3 chợ đầu mối (Hóc Môn, Thủ Đức, Bình Điền) bình quân 6.
Từ đó có thể thấy lượng RAT được tiêu thụ tại TPHCM vẫn không đáng kể. Người tiêu dùng trước những rủi ro tiềm ẩn của rau thường đã tìm đến RAT tại các 3 hệ thống siêu thị và các cửa hàng RAT như một cứu cánh cho sức khỏe của bản thân và gia đình. Việc chọn lựa nơi mua rau sao cho bảo đảm VSATTP luôn là một vấn đề trăn trở của người nội trợ trong điều kiện thiếu thông tin trên thị trường rau (Đỗ Kim Chung và Nguyễn Linh Trung, 2015). Trên thực tế, việc mua được rau thật sự an toàn cho sức khỏe là không dễ.
Từ năm 2015 đến nay các phương tiện thông tin đại chúng đã công bố hàng loạt vụ vi phạm VSATTP. Điều này đã khiến cho người tiêu dùng không chỉ hoang mang về chất lượng rau mà còn mất niềm tin về hệ thống quản lý kiểm soát của các cơ quan chức năng.3 VẤN ĐỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM THÔNG TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Vấn đề lòng tin của người tiêu dùng được đề cập ở trên có thể xuất phát từ tình trạng thông tin bất cân xứng. Vấn đề nằm ở chỗ thuộc tính VSATTP của rau củ quả là một thuộc tính mà trong hầu hết các trường hợp, người tiêu dùng không thể biết được ngay cả sau khi tiêu dùng. Trong khi đó, người bán và người sản xuất biết rõ hơn về chất lượng và VSATTP của hàng hóa mà họ cung cấp.
Kết quả là người sản xuất có động cơ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các hóa chất độc hại nhằm làm cho rau có hình dáng đẹp, dễ tiêu thụ nhằm tăng lợi nhuận. Đây là hiện tượng rủi ro đạo đức (moral hazard) phát sinh do bất cân xứng thông tin. Bên cạnh đó, bởi vì người mua không thể phân biệt rau không an toàn và RAT, cho nên hai loại rau này có xu hướng được bán bằng giá và hai thị trường nhập lại thành một. Và bởi vì RAT có chi phí sản xuất cao hơn nhiều, những người sản xuất và bán RAT khó cạnh tranh với rau không an toàn.
Đây là vấn đề lựa chọn ngược (adverse selection). Hậu quả của rủi ro đạo đức và lựa chọn ngược là RAT sẽ bị rau không an toàn đẩy ra khỏi thị trường. Bởi vì người tiêu dùng rất quan tâm đến tính an toàn và vì thiếu thông tin, nên khi quyết định mua rau, họ thường thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Theo kết quả từ Trung tâm tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp (2016), nguồn thông tin mà họ thu thập chủ yếu đến từ báo, đài (54,05%), poster, giới thiệu tại nơi bán (21,62%), internet (16,76%), bạn bè đồng nghiệp (7,57%).
4 Thông tin bất cân xứng dẫn đến việc người mua phải tìm kiếm thông tin về nơi mua, nhà cung cấp và nguồn gốc xuất xứ RAT, cũng như thông tin về các vụ ngộ độc hay vi phạm VSATTP. Các nguồn thông tin có thể ảnh hưởng đến hành vi của người mua RAT trong việc lựa chọn nơi mua, loại rau (rau thường hay an toàn) và lượng mua. Việc biết được các kênh thông tin có ảnh hưởng hay không, và mức độ ảnh hưởng của mỗi kênh, sẽ rất hữu ích cho các nhà bán lẻ RAT trong việc thúc đẩy sức tiêu thụ, cũng như cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách nhằm giảm thiểu hậu quả của vấn đề bất cân xứng thông tin. Đây là những vấn đề nghiên cứu chính của luận án.
Bên cạnh đó trên thị trường rau TPHCM hiện nay, một số nhà cung cấp RAT cũng đã thực hiện các biện pháp giảm thiểu thông tin bất cân xứng bằng cách cung cấp thông tin về chất lượng rau trên bao bì, bao gồm chứng nhận an toàn, truy xuất nguồn gốc, các thông số kỹ thuật và các cam kết về VSATTP. Những biện pháp này có thể ảnh hưởng khác nhau đến hành vi và sự lựa chọn của người mua rau, và việc biết được hiệu quả của các biện pháp này cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà bán lẻ RAT cũng như các nhà hoạch định chính sách liên quan đến thị trường rau củ quả và VSATTP. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xuất phát từ những vấn đề trên, luận án này đề xuất ba mục tiêu nghiên cứu. Mục này giới thiệu các mục tiêu nghiên cứu, đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước liên quan đến các mục tiêu đã được thực hiện ở Việt Nam để chỉ ra rằng những vấn đề này chưa được nghiên cứu đầy đủ ở Việt Nam.1 Mục tiêu 1: Tác động của thông tin VSATTP đến nhu cầu RAT Nguyễn Hồng Sơn (2011) cho biết chi phí phân phối RAT cao hơn hẳn so với rau thường do các chi phí phát sinh như: giám sát chất lượng, vận chuyển, bảo quản, và bao bì.
Kết quả là giá thành RAT cao hơn nhiều so với rau thường. Đỗ Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2015) cho biết giá RAT cao hơn từ 50% đến 170% so với rau thường. Tuy nhiên do vấn đề bất cân xứng thông tin, người tiêu dùng không thể phân biệt được rau thường và RAT, kết quả là họ không sẵn lòng trả mức giá cao để mua RAT. 5 Đỗ Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2015) chỉ ra rằng chỉ có 4,5% sẵn lòng trả cho RAT cao hơn 20% so với rau thường, trong khi 75,1% không sẵn lòng trả thêm 15%.
Điều này cho thấy có một sự chênh lệch rất lớn giữa chi phí sản xuất và giá người tiêu dùng sẵn lòng chi trả cho RAT. Đối với người bán rau, đặc biệt là người bán RAT, việc đề ra mức giá nào là hợp lý nhằm thu hút người tiêu dùng là một vấn đề quan trọng, nhất là trong tình trạng thông tin bất cân xứng. Giá rau không chỉ là yếu tố quyết định việc lựa chọn loại rau của người mua mà còn là yếu tố quan trọng tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho người bán rau. Vì vậy, nghiên cứu cầu đối với RAT là quan trọng ở chỗ nó cung cấp thông tin về phản ứng của người mua đối với giá rau và các yếu tố khác, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho nhà phân phối RAT trong việc xác định giá bán tối ưu.