Luận án về ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định mua xanh của giới trẻ Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến ý định mua xanh của giới trẻ việt nam tiếp cận, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Marketing

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2019

164
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Khái quát về phương pháp nghiên cứu

1.5. Các kết quả nghiên cứu đạt được

1.5.1. Đóng góp về phương diện lý luận

1.5.2. Đóng góp về phương diện thực tiễn

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua xanh của giới trẻ Việt Nam. Mua xanh đã trở thành một xu hướng quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà nhận thức về môi trường ngày càng gia tăng. Các yếu tố như nhận thức về môi trường, hành vi tiêu dùngthói quen mua sắm được xem xét kỹ lưỡng. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự phát triển bền vững không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cấp thiết trong xã hội hiện đại. Theo đó, việc hiểu rõ các yếu tố tác động đến ý định mua xanh sẽ giúp các doanh nghiệp và nhà quản lý xây dựng chiến lược marketing hiệu quả hơn.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Trong bối cảnh môi trường sống ngày càng bị đe dọa bởi ô nhiễm và biến đổi khí hậu, việc nghiên cứu về tiêu dùng bền vững trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Giới trẻ Việt Nam, với tỷ lệ dân số cao và khả năng tiếp cận thông tin nhanh chóng, có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh. Nghiên cứu này không chỉ nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua xanh mà còn tìm hiểu cách thức mà các yếu tố này tương tác với nhau. Điều này sẽ cung cấp cơ sở lý luận cho các chiến lược marketing xanh trong tương lai.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua xanh

Nghiên cứu đã xác định nhiều yếu tố có tác động đến ý định mua xanh của giới trẻ Việt Nam. Các yếu tố này bao gồm nhận thức về môi trường, tâm lý tiêu dùng, và tác động từ xã hội. Nhận thức về môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen mua sắm. Khi người tiêu dùng trẻ nhận thức rõ về tác động của sản phẩm đến môi trường, họ có xu hướng lựa chọn các sản phẩm xanh hơn. Bên cạnh đó, tâm lý tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng. Những người tiêu dùng có tâm lý tiêu dùng tích cực thường có xu hướng ủng hộ các sản phẩm thân thiện với môi trường.

2.1. Nhận thức về môi trường

Nhận thức về môi trường là yếu tố then chốt trong việc hình thành ý định mua xanh. Nghiên cứu cho thấy rằng khi giới trẻ Việt Nam có nhận thức cao về các vấn đề môi trường, họ sẽ có xu hướng ưu tiên lựa chọn các sản phẩm xanh. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra một lối sống bền vững. Các chương trình giáo dục và truyền thông về môi trường cần được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trẻ, từ đó thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững.

2.2. Tâm lý tiêu dùng

Tâm lý tiêu dùng của giới trẻ Việt Nam cũng có ảnh hưởng lớn đến ý định mua xanh. Những người tiêu dùng trẻ có tâm lý tiêu dùng tích cực thường có xu hướng tìm kiếm các sản phẩm thân thiện với môi trường. Nghiên cứu cho thấy rằng tâm lý tiêu dùng không chỉ ảnh hưởng đến quyết định mua hàng mà còn tác động đến thói quen mua sắm của người tiêu dùng. Việc tạo ra một môi trường tiêu dùng tích cực sẽ khuyến khích giới trẻ tham gia vào các hoạt động tiêu dùng bền vững.

III. Chiến lược marketing xanh

Để gia tăng ý định mua xanh của giới trẻ Việt Nam, các doanh nghiệp cần áp dụng các chiến lược marketing xanh hiệu quả. Chiến lược này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về sản phẩm xanh mà còn tạo ra giá trị cho người tiêu dùng. Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc truyền thông về giá trị xanh của sản phẩm, từ đó tạo ra sự kết nối với người tiêu dùng. Việc sử dụng các kênh truyền thông xã hội để tiếp cận giới trẻ cũng là một phương pháp hiệu quả.

3.1. Truyền thông về giá trị xanh

Truyền thông về giá trị xanh của sản phẩm là một yếu tố quan trọng trong chiến lược marketing xanh. Doanh nghiệp cần cung cấp thông tin rõ ràng về lợi ích của sản phẩm đối với môi trường. Việc này không chỉ giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về sản phẩm mà còn tạo ra sự tin tưởng. Các chiến dịch truyền thông cần được thiết kế hấp dẫn và dễ tiếp cận để thu hút sự chú ý của giới trẻ.

3.2. Sử dụng kênh truyền thông xã hội

Kênh truyền thông xã hội là một công cụ mạnh mẽ để tiếp cận giới trẻ Việt Nam. Các doanh nghiệp có thể sử dụng các nền tảng như Facebook, Instagram để quảng bá sản phẩm xanh. Việc tạo ra nội dung hấp dẫn và tương tác với người tiêu dùng sẽ giúp nâng cao nhận thức về tiêu dùng bền vững. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng nên khuyến khích người tiêu dùng chia sẻ trải nghiệm của họ với sản phẩm, từ đó tạo ra một cộng đồng tiêu dùng xanh.

25/01/2025
Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến ý định mua xanh của giới trẻ việt nam tiếp cận theo lý thuyết kiểm soát sợ hãi và lý thuyết học tập xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến ý định mua xanh của giới trẻ Việt Nam (tiếp cận theo lý thuyết kiểm soát sợ hãi và lý thuyết học tập xã hội) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN Ý ĐỊNH MUA XANH (TIẾP CẬN THEO LÝ THUYẾT KIỂM SOÁT SỢ HÃI VÀ LÝ THUYẾT HỌC TẬP XÃ HỘI) 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Marketing xanh Marketing xanh đã được xem như một trong những chủ đề nghiên cứu khoa học quan trọng kể từ khi hình thành. Định nghĩa đầu tiên của Marketing xanh theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ - AMA vào năm 1975 thì marketing xanh là các hoạt động marketing cho sản phẩm an toàn với môi trường.

Do vậy, marketing xanh gắn liền với một số hoạt động phổ biến bao gồm điều chỉnh sản phẩm, thay đổi quy trình sản xuất, thay đổi cách thức đóng gói cũng như truyền thông tiếp thị các sản phẩm. Như vậy, Marketing xanh đề cập đến khái niệm marketing toàn diện, trong đó sản xuất, tiêu thụ một sản phẩm và dịch vụ xảy ra mà ít gây hại cho môi trường xuất phát từ nhận thức về tác động của sự nóng lên toàn cầu, chất thải rắn không phân hủy, có hại tác động của các chất ô nhiễm,. Theo Henion và cộng sự (1976), Marketing xanh là việc thực hiện các chương trình marketing nhắm vào phân khúc thị trường có ý thức với môi trường. Cùng với quá trình phát triển của Marketing xanh thì khái niệm về Marketing xanh được tiếp cận dưới nhiều quan điểm khác nhau, có thể được khái quát một số khái niệm điển hình sau: Marketing xanh là toàn bộ các hoạt động được tạo ra nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi trao đổi, để thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của con người với tác động gây hại tối thiểu lên môi trường tự nhiên (Polonsky,1994).

Marketing xanh là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát sự phát triển, định giá, khuyến mãi và phân phối các sản phẩm thỏa mãn ba tiêu chí sau đây: (1) đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của khách hàng, (2) đạt được các mục tiêu tổ chức và (3) quá trình thực hiện phải thân thiện với môi trường (Fuller, 1999). Ý tưởng chính của Marketing xanh là khách hàng được cung cấp các thông tin về các tác động liên quan đến môi trường của sản phẩm và họ sẽ có thông tin này khi quyết định nên mua sản phẩm nào. Và để đáp ứng được điều đó, đến lượt mình, các nhà sản xuất có xu hướng chuyển sang sản xuất các sản phẩm bền vững với môi trường hơn (Rex và Baumanm, 2007). 12 Qua nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau, ta có thể nói: “Marketing xanh là một quá trình nhằm thực hiện cả hai nhiệm vụ là cải thiện môi trường sống và làm hài lòng khách hàng từ sản phẩm của doanh nghiệp.

Marketing xanh là dùng để chỉ hoạt động marketing các loại sản phẩm được cho là tốt cho môi trường. Marketing xanh bao gồm hàng loạt các hoạt động của doanh nghiệp từ thay đổi thiết kế sản phẩm, quy trình sản xuất, bao bì đóng gói, quảng cáo,… nhằm đáp ứng nhu cầu xanh của người tiêu dùng và xã hội, từ đó tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trước các đối thủ”. Trong cách nhìn nhận này ta có thể hiểu ngoài việc nhu cầu của khách hàng phải được thỏa mãn, sản phẩm còn phải thân thiện với môi trường và đảm bảo cho cuộc sống tương lai của con cái họ. Chính vì lẽ đó mà marketing xanh ra đời đáp ứng cho nhu cầu tất yếu ngày càng gia tăng của cả người tiêu dùng và người sản xuất, đồng thời marketing xanh còn hứa hẹn đem lại lợi ích lâu dài cho xã hội - sự phát triển bền vững.

Sản phẩm xanh Hiện nay, có một số tranh cãi về khái niệm sản phẩm xanh hay sản phẩm bền vững với môi trường cả trong nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng. Vậy thế nào là sản phẩm xanh? Sản phẩm xanh có đặc điểm gì? Và làm sao để lựa chọn các sản phẩm này? Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số quan điểm về sản phẩm xanh từ các nghiên cứu về tiêu dùng xanh trước đây. Sản phẩm xanh là sản phẩm góp phần làm bền vững thế giới bằng cách bảo vệ và bảo tồn môi trường sống tự nhiên và không gây ô nhiễm cho trái đất hay tổn hại đến các tài nguyên thiên nhiên. Trong nghiên cứu của Schlegelmilch và cộng sự (1996) cho thấy sản phẩm xanh là những sản phẩm mà không gây ô nhiễm cho trái đất hay phá hủy tài nguyên thiên nhiên bao gồm các sản phẩm có sử dụng nguyên liệu có thể tái chế, không thử nghiệm trên động vật, thân thiện với môi trường, các loại rau quả được trồng bằng chất hữu cơ, các sản phẩm không gây ảnh hưởng đến tầng ozon và tiết kiệm năng lượng.

Sản phẩm xanh là sản phẩm mà không gây hại cho môi trường và cũng có những thành phần mà không có thể gây hại cho môi trường (Ranai Kordshouli và Yari ouzanjani, 2012). Sản phẩm được làm từ hàng tái chế, các sản phẩm hiệu quả trong việc tiết kiệm nước, năng lượng hoặc xăng, tiết kiệm tiền và giảm thiểu tác động môi trường. Sản phẩm với bao bì có trách nhiệm với môi trường (Polonsky và Rosenberger, 2001) và nếu quá trình sản xuất của nó là thân thiện với môi trường (Lee, 2008). Một nghiên cứu khác tại châu Á của hai tác giả Chen và Chai (2010) cho rằng sản phẩm xanh là sản phẩm sử dụng các vật liệu ít độc hại và có thể tái chế hoặc sử 13 dụng ít bao bì để giảm các tác động đến môi trường.

Theo Otttman (1998, trang 89) trích trong Durif và cộng sự (2010), một tác giả nổi tiếng trong lĩnh vực marketing xanh đã định nghĩa sản phẩm xanh: “Sản phẩm xanh thường bền, không độc hại, được làm bằng vật liệu tái chế, hoặc đóng gói với hình thức tối thiểu. Tất nhiên, không có sản phẩm xanh hoàn toàn vì chúng đều sử dụng hết năng lượng và nguồn tài nguyên và tạo ra sản phẩm và khí thải trong quá trình sản xuất, vận chuyển đến kho và cửa hàng, sử dụng và xử lý cuối cùng. Vì vậy, sản phẩm xanh chỉ là tương đối, mô tả sản phẩm có ít tác động đến môi trường hơn so với những sản phẩm thay thế của sản phẩm xanh”. Như vậy, chúng ta rất khó để tìm thấy một sản phẩm được coi là bền vững với môi trường một cách tuyệt đối mà chỉ tồn tại những sản phẩm bền vững với môi trường một cách tương đối.

Tại Việt Nam, theo Nghị định “Về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường” năm 2009 đã giải thích: “sản phẩm thân thiện với môi trường là sản phẩm mà trong quá trình khai khác nguyên liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi thải bỏ gây hại ít hơn cho môi trường so với sản phẩm cùng loại và được cấp nhãn sinh thái của tổ chức được Nhà nước công nhận”. Xét dưới góc độ pháp lý, xã hội và môi trường ở Việt Nam thì một sản phẩm đáp ứng một trong bốn tiêu chí cụ thể dưới đây được xem là sản phẩm xanh: (1) Các vật liệu tạo ra sản phẩm phải thân thiện với môi trường. (2) Các sản phẩm mang đến những giải pháp an toàn cho môi trường và sức khỏe thay cho những sản phẩm độc hại truyền thống. (4) Các sản phẩm phải tạo ra một môi trường thân thiện, bền vững và an toàn đối với sức khỏe.

Tiêu dùng xanh và người tiêu dùng xanh Khái niệm tiêu dùng xanh đã có từ nhiều thập kỷ qua và ngày càng phổ biến, bao gồm một phạm vi tiêu thụ rộng lớn các hoạt động tập trung vào bảo vệ và giữ gìn thiên nhiên môi trường (Perera và cộng sự, 2018). Một số thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu bao gồm tiêu dùng có đạo đức (Cherrier, 2007), tiêu dùng có trách nhiệm (Borgmann, 2000; Wilk, 2001), tiêu dùng bền vững (Seyfang, 2004) hoặc các hình thức tiêu dùng khác nhau liên quan đến môi trường (Kilbourne và Pickett, 2008; Stern, 2000a, b). Ngoài ra, các 14 khái niệm như hành vi môi trường, hành vi có ý thức môi trường và hành vi thân thiện môi trường được sử dụng thay thế cho nhau, truyền đạt ý nghĩa tương tự như khái niệm tiêu dùng xanh (Perera và cộng sự, 2018). Mainieri và cộng sự (1997) cho rằng: tiêu dùng xanh là các hành vi mua sắm sản phẩm thân thiện và có lợi ích tới môi trường.

Đó là các sản phẩm phải tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu dài hạn về bảo vệ và bảo tồn môi trường. Connolly và Prothero (2008), định nghĩa tiêu dùng xanh là sự tự nguyện tham gia của người tiêu dùng vào mua và tiêu dùng các sản phẩm bền vững với môi trường. Những thực hành này có thể có nhiều các hình thức và bao gồm một loạt các sản phẩm. Chẳng hạn, một số người thích mua các trang phục mới từ sản phẩm tái chế để giảm thiểu chất thải, trong khi những người khác có thể chọn mua trái cây và rau hữu cơ trồng trọt không sử dụng thuốc trừ sâu.

Ngày này, tiêu dùng xanh không chỉ dừng lại ở các hành vi mua sắm xanh mà còn là chuỗi các hành vi được nhìn nhận dưới quan điểm phát triển bền vững: mua thực phẩm sinh thái, tái chế, tái sử dụng, tiết kiệm và sử dụng hệ thống giao thông thân thiện với môi trường (Perera và cộng sự, 2018). Người tiêu dùng xanh là bất cứ người nào có hành vi mua bị ảnh hưởng bởi sự quan tâm đến môi trường (Shrum và cộng sự, 1995), cụ thể là những người “tránh những sản phẩm gây nguy hại đến sức khỏe của họ hay người khác, tránh những sản phẩm gây ảnh hưởng nguy hiểm cho môi trường trong quá trình sản xuất, cũng như những sản phẩm sử dụng chất thải, tiêu dùng lãng phí năng lượng, sử dụng các vật liệu đe dọa sự bền vững của môi trường’’ (Strong, 1996, trang 5). Trong một nghiên cứu khác, Ottman (1998) trích trong Suplico (2009) cho thấy tổ chức Roper Organization đã xác định năm phân khúc thị trường người tiêu dùng tại Mỹ dựa trên mức độ cam kết của họ về môi trường. Đầu tiên “true-blue green”, người tiêu dùng tin tưởng mạnh mẽ rằng hành động của họ có tác động đến môi trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Luận án về ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định mua xanh của giới trẻ Việt Nam" nghiên cứu sâu về các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm bền vững của giới trẻ tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tâm lý và hành vi tiêu dùng của thế hệ trẻ mà còn chỉ ra những yếu tố quan trọng như nhận thức về môi trường, giá cả và chất lượng sản phẩm. Qua đó, bài viết cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà tiếp thị và doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược tiếp cận và phát triển sản phẩm xanh, từ đó thúc đẩy tiêu dùng bền vững trong cộng đồng.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến quản trị kinh doanh và marketing, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ Về Định Vị Thương Hiệu Khách Sạn Xanh Tại Đà Nẵng", nơi khám phá cách định vị thương hiệu trong lĩnh vực dịch vụ xanh. Bên cạnh đó, bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ Về Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương" cũng có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực làm việc trong môi trường kinh doanh hiện đại. Cuối cùng, bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ: Lập Kế Hoạch Marketing Cho Sản Phẩm Gardasil Của Công Ty MSD Việt Nam Giai Đoạn 2015-2016" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức lập kế hoạch marketing cho sản phẩm trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng và chiến lược kinh doanh.