PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được và là một thành phần quan trọng của môi trường sống. Đất đai tham gia vào hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, nó là nguồn vốn, nguồn lực quan trọng của đất nước. Từ xưa đến nay cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người đất đai ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình, đất đai là tài nguyên gốc, là điểm xuất phát cho mọi sự phát triển.
Chính vì thế, để đất đai có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau một cách hiệu quả Nhà nước đã ban hành một loạt các văn bản liên quan đến đất đai. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã nêu: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý…” Các luật đất đai 1987, 1993, 2003, 2013 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành luật đất đai đang từng bước đi sâu vào thực tiễn. Luật đất đai năm 2013 khẳng định “Đăng kí đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai”. Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình để sử dụng ổn định, lâu dài.
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nhằm xác lập, đảm bảo quyền sử dụng, đầu tư, sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả, đồng thời còn là cơ sở để cho các chủ sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển dổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nhà Nước còn nắm chắc được tài nguyên đất làm cơ sở pháp lý để giải quyết các quan hệ pháp luật về đất đai. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo pháp luật đất đai đã quy định. Đặc biệt là ngày nay, khi mà nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng, đất đai trở nên có giá trị thì công việc này càng đóng vai trò hết sức quan trọng.
c 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự hướng dẫn của Thầy giáo – TS. Lê Văn Thơ, em tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016” 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ, thực hiện tốt công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá công tác quản lý và sử dụng đất của xã. - Đánh giá kết quả công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016. - Xác định những thuận lợi và khó khăn trong công tác và đề xuất một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ, thực hiện tốt công tác cấp GCNQSDĐ trên trên địa bàn xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngoài thực tế.
+ Nắm được những quy định của Luật đất đai năm 2013 và những văn bản dưới luật về đất đai trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. + Rèn luyện kỹ năng làm việc chuyên môn góp phần hoàn thiện bản thân đáp ứng nhu cầu của xã hội. - Trong thực tiễn: Qua quá trình nghiên cứu công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ thấy được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực công tác này, từ đó kiện nghị và đề xuất với các cấp có thẩm quyền đưa ra những giải pháp phù hợp với công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của công tác cấp GCNQSDĐ 2. Cơ sở lý luận của công tác cấp GCNQSDĐ 2. Khái niệm về đăng ký đất đai và công tác cấp GCNQSDĐ 2. Khái niệm về đăng ký đất đai Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực hiện đối với các đối tượng là tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất; là việc ghi nhận về quyền sử dụng đất đối với thửa đất xác định vào HSĐC và cấp GCN nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất đồng thời nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.
Đăng ký đất đai có 2 loại [6]: - Đăng ký ban đầu: Là đăng ký thực hiện với các trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, người sử dụng đất đang sử dụng đất mà chưa được cấp GCNQSDĐ. - Đăng ký biến động: Được thực hiện với người sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ mà có biến đổi về quyền sử dụng đất với các trường hợp: Chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn; được phép đổi tên; thay đổi hình dạng, kích thước thửa đất; chuyển mục đích sử dụng đất; thay đổi thời hạn sử dụng đất; chuyển từ hình thức giao đất có thu tiền sang thuê đất và ngược lại. Công tác cấp GCNQSDĐ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Song thực tế đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian.
Cùng với thời gian giá c 4 trị sử dụng của đất có chiều hướng tăng hay giảm điều đó phụ thuộc vào việc triển khai sử dụng của con người. Trong những năm gần đây, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước đặc biệt là việc gia nhập WTO. Nó đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ đồng thời nhu cầu sử dụng đất cũng tăng lên và làm cho công tác quản lý sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm cũng ngày càng trở lên phức tạp. Chính vì thế, công tác quản lý sử dụng đất đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc.
Trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai công tác ĐKĐĐ, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính có vai trò rất quan trọng. GCNQSDĐ là giấy do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng [7]. GCNQSDĐ được cấp theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành. Hiện nay GCN được cấp theo quy định của Luật đất đai 2013 và mẫu giấy chứng nhận theo thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014.
Quá trình cấp GCN là quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ nhất để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đất đai (giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa người sử dụng đất với nhau) theo đúng pháp luật. Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Năm 2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Đất đai ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2014. So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều, đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003. Luật đất đai 2013 đã sửa đổi từ 13 nội dung thành 15 nội dung Quản lý Nhà nước về đất đai cho phù hợp với tình hình mới.
Tại Điều 22 Luật đất đai năm 2013 quy định 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như sau (Luật đất đai 2013) [8]: c 5 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Thống kê, kiểm kê đất đai. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Trong Luật đất đai năm 2013 nội dung cấp GCNQSD đất vẫn là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai.