Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập. Chương 2: Đánh giá thực hiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.
Các khái niệm, thuật ngữ liên quan 1. Giáo dục đại học ở Việt Nam Có thể nói cụm từ “giáo dục đại học” hiện nay vẫn đang còn được hiểu theo nhiều ý kiến trái chiều khác nhau với nhiều sự giải thích cũng như hệ thống tư tưởng không giống nhau. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì giáo dục đại học “là đào tạo trình độ cao đẳng và đại học". Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo.
Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.Giáo dục đại học "giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn, kỹ thuật thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo”. Xét về mặt lịch sử, nền giáo dục đại học đã xuất hiện ở nước ta cách đây trên cả nghìn năm. Cho đến nay, lịch sử giáo dục đại học Việt Nam đã trải qua các nền giáo dục khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975). Sự nghiệp giáo dục đại học trải qua 30 năm đổi mới đã đạt nhiều thành tựu to lớn.
Ở nước ta, Nhà nước đã ban hành Luật Giáo dục đại học năm 2012 song cũng chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học. Trong khuôn khổ của 9 luận văn và tiếp cận các văn bản không chính thức, cách hiểu và sử dụng của các nhà khoa học, tác giả luận văn thống nhất: giáo dục đại học là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Một số khái niệm giáo dục đại học trên thế giới * Tổ chức UNESCO Quan niệm về giáo dục đại học được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đề xuất năm 1968 và được nhiều nước thừa nhận với tên gọi là “Giáo dục bậc ba”. Nhưng từ sau Hội nghị thế giới về giáo dục đại học được tổ chức tại trụ sở UNESCO ở Paris năm 1998 đã xuất hiện một quan niệm mới: Giáo dục đại học ở thế kỷ XXI là học tập suốt đời và bao gồm: tất cả các loại hình học tập, đào tạo hoặc đào tạo - nghiên cứu ở trình độ sau trung học phổ thông được thực hiện bởi các trường đại học hoặc các cơ sở giáo dục khác được cơ quan thẩm quyền của nhà nước công nhận như là những định chế giáo dục đại học.
Theo quan điểm này, Giáo dục đại học còn được gọi là giáo dục sau trung học không chỉ giáo dục đại học truyền thống như đại học, cao đẳng mà còn bao gồm tất cả mọi trình độ học vấn cung cấp cho người đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Ở các quốc gia phát triển, giáo dục nói chung và giáo dục đại học (GDĐH) nói riêng luôn được coi là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy trải qua hàng trăm năm phát triển, GDĐH ở các quốc gia này đã tạo nên những thành quả rất ấn tượng. * Hoa Kỳ Hoa kỳ là một quốc gia được xếp hạng ở nhóm các nước phát triển cao và có hệ thống giáo dục đặc thù của một nước có nền kinh tế thị trường, phát triển mạnh theo cơ chế phi tập trung hoá.
Cơ cấu hệ thống giáo dục Hoa kỳ bao gồm các bậc học cơ bản như trước tuổi đến trường (Kindergartens); Tiểu học; Trung học và Đại học. Cơ cấu các 10 loại hình trường ở các bậc học phổ thông rất đa dạng không thống nhất trong toàn quốc mà tùy thuộc vào từng Bang khác nhau. Bậc đại học bao gồm các Đai học (University) và Cao đẳng. Loại hình trường Cao đẳng như cao đẳng cộng đồng (Community Colleges); Cao đẳng (Junior Colleges); Các trường cao đẳng kỹ thuật, nghề nghiệp (Voc/Tech Institutions).
Hệ thống Đại học Hoa kỳ chủ yếu là các đại học đa lĩnh vực, đại học nghiên cứu (Research University) và có nhiều loại hình đào tạo khác nhau từ cử nhân (Bachelor degree) đến Thạc sĩ (Masters degree) và Tiến sĩ (Ph. Trong hệ thống đại học còn có một số loại hình trường chuyên ngành (Professional Schools) như trường Luật, Trường Y. Như vậy, giáo dục đại học ở Hoa Kỳ cũng bao gồm bậc đại học và Cao đẳng. * Hà Lan Hà Lan là một nước thành viên trong liên minh Châu Âu (EU) nằm ở khu vực Tây-Bắc Âu với diện tích 33,948 km, dân số 16,1 triệu người (năm 2001).
Hệ thống giáo dục Hà Lan là một hệ thống giáo dục tập trung nhà nước ở tất cả các bậc học và loại hình đào tạo. Hà Lan hầu như không có hệ thống trường tư như ở Anh, Mỹ và một số nước Châu Âu khác. Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá chịu trách nhiệm quản lý theo luật định tất cả các bậc học và loại hình đào tạo trừ một số chương trình đào tạo trong các lĩnh vực y tế và nông nghiệp do các Bộ chuyên ngành quản lý. Hiện đang có khuynh hướng tăng cường sự chế tài của hệ thống luật lệ của nhà nước đối với tất cả các bậc học và loại hình giáo dục.
Cũng như nhiều nước khác, hệ thống giáo dục Hà Lan có các bậc học cơ bản như Tiểu học, Trung học, Đại học với nhiều loại hình giáo dục và đào tạo đa dạng. Giáo dục tiền đại học là một loại hình giáo dục trung học phổ thông có định hướng chính là tiếp tục lên các loại hình giáo dục đại học (University) với thời gian học là 6 năm. Loại hình này cũng có 4 lĩnh vực như trên nhưng chương trình đào tạo được thiết kế nặng về các kiến thức lý thuyết cơ 11 bản, hàn lâm. Giáo dục đại học Hà Lan đang trong quá trình chuyển đổi từ mô hình Tây âu truyền thống sang mô hình Châu âu hiện đại.
Ở bậc giáo dục đại học có 3 loại hình đào tạo chính. Loại hình đào tạo tại các Đại học đa lĩnh vực (University) với các chương trình đào tạo nặng hướng hàn lâm để đào tạo chủ yếu là các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu, đào tạo. Ngoài ra, loại hình này có một số chương trình đào tạo các ngành nghề xã hội như công nghiệp, kinh tế. Các loại hình trường đại học ở Việt Nam Trường đại học là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên.
Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề. Các trường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học. Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo các loại hình sau đây: 1. Cơ sở giáo dục đại học công lập Khái niệm, mô hình và địa vị pháp lý của trường đại học công lập có sự khác nhau trong hệ thống giáo dục đại học ở mỗi quốc gia.
Tuy nhiên khái niệm về trường đại học công lập có thể được hiểu như sau: Trường đại học công lập là trường do chính quyền thành lập và quản lý. Nguồn kinh phí đảm bảo cho các trường đại học công lập hoạt động phụ thuộc vào chính sách đầu tư tài chính và mức độ xã hội hóa nguồn lực dành cho giáo dục đại học của mỗi quốc gia. Sự ra đời và hoạt động của các trường đại học công lập thể hiện vai trò của Nhà nước đối với giáo dục đại học. Nhà nước thông qua các hoạt động của trường đại học công lập để điều tiết các nguồn lực xã hội sao cho có hiệu quả nhất, từ đó điều tiết cơ cấu đào tạo nhân lực hợp lý, duy trì và phát triển giáo dục đào tạo.
Thông qua các trường đại học công lập, Nhà nước muốn đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích công về giáo dục đại học. Lợi ích này lan tỏa ra toàn xã hội, 12 đảm bảo tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng tiếp cận với giáo dục đại học. Trường đại học công lập là nơi triển khai các chính sách đầu tư phát triển giáo dục đại học của mỗi quốc gia. Các trường đại học công lập thuộc sở hữu Nhà nước, được Chính phủ hoặc chính quyền ở các địa phương cấp ngân sách để triển khai các chính sách phát triển giáo dục đại học của chính quyền các cấp.
Trường đại học công lập có sứ mạng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Trong hệ thống giáo dục đại học, các trường đại học công lập có lợi thế hơn các trường tư thục về điều kiện đảm bảo chất lượng như đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, học liệu, thư viện để thực hiện được các sứ mạng nêu trên. Tại Việt Nam hiện nay có các mô hình Trường Đại học công lập: + Trường thuộc Bộ GDĐT: Là các trường đại học công lập do Bộ Giáo dục và đào tạo thành lập, quản lý. Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước thời kỳ hội nhập; đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành giáo dục, đào tạo.
+ Trường thuộc Bộ khác quản lý: Là trường đại học công lập do các bộ chuyên ngành quản lý.