Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về bảo vệ quyền tác giả trong môi trường giáo dục đại học Việt Nam Chương 2: Thực trạng vi phạm pháp luật quyền tác giả và bảo vệ quyền tác giả trong môi trường giáo dục đại học Chương 3: Hoàn thiện các giải pháp bảo vệ quyền tác giả trong môi trường giáo dục đại học Việt Nam CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƢỜNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 1.1 Nhận thức chung về quyền tác giả và pháp luật quyền tác giả 1.1 Lịch sử hình thành nhận thức về quyền tác giả Quyền tác giả với cách hiểu đầy đủ về ý nghĩa, đặc tính vốn có của nó, được cộng đồng quốc tế thừa nhận vào cuối thế kỷ 19, gắn với việc ban hành Công ước Berne (Thụy Sĩ) năm 1886 về “Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật” (gọi tắt Công ước Berne1). Tuy nhiên, từ rất lâu trong lịch sử nhân loại đã hình thành những ý niệm cơ bản về việc bảo vệ quyền lợi người sáng tạo, in ấn, phát hành tác phẩm. Thời cổ đại, đã xuất hiện ý niệm, tư tưởng chiếm hữu, thậm chí độc quyền sản phẩm tinh thần, trí tuệ do mình tạo ra. Nhà thơ vĩ đại của La Mã Marcus Valerius Martial (42-104 SCN) nổi tiếng với mười hai cuốn Epigrams (thể loại thơ trào phúng hay châm ngôn) gồm 1561 câu, xuất bản ở Rome trong thời gian từ năm 86 đến năm 103 Sau công nguyên, dưới triều đại của các hoàng đế Domiti, Nerva và Trajan 2.
Martial gọi Fidentinus (một nhà thơ khác) là “Plagiarius”, tức kẻ bán rẻ linh hồn một cách tồi tàn, kẻ cướp của người, vì Fidentinus đã lấy những bài thơ của Martial giới thiệu khắp nơi và công bố chúng là của mình3. Cụm từ “Kẻ cướp của người” ngày nay gọi là “Kẻ đạo của người”4 – tức “lấy” hay “đạo” văn chương, ý tưởng của người khác, nói gọn là “Đạo văn”. Nghệ sỹ, nhạc sỹ, nhà thơ – những người sáng tạo ra tác phẩm tinh thần thời đó hầu hết không hoạt động kinh doanh, nên cần sự bảo trợ của mạnh thường quân - người chịu trách nhiệm phổ biến tác phẩm và chu cấp vật chất cho cuộc sống của tác giả. Chỉ có các họa sỹ mới được trả tiền cho công việc của mình, vì người ta coi họ là thợ thủ công.
Những mạnh thường quân này có thể sử dụng tác 1 Công ước Berne đã được sửa chữa vào các lần: Berlin (1908), Roma (1928), Brussels (1948), Stockholm (1967) và Paris (1971). Từ năm 1967, Công ước Berne được quản lý bởi Tổ chức SHTT Thế giới (World Intellectual Property Organization, viết tắt là WIPO). Việt Nam ký kết tham gia Công ước và chính thức có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam vào ngày 26/10/2004 2 https://mimirbook.com/vi/f298e0ab481 3 Nguyễn Vân Nam (2017): Quyền tác giả- đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ, trang 570 4 Nguyễn Vân Nam (2017: Quyền tác giả- đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ, trang 36 1 phẩm của những tác giả do ông ta bảo trợ một cách tùy thích, kể cả việc cho nhân bản tác phẩm1. Thời trung đại, xuất hiện những nhận thức mới hơn về quyền của người sáng tác và trên cơ sở đó, một số quy định của pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của họ được ban hành.
Cụ thể, vào cuối thời kỳ nhà Tống, “Khi các nhà sáng chế tạo ra công nghệ in ấn, Trung Quốc bắt đầu chính thức bảo hộ quyền của tác giả vào năm 1068, khi Hoàng đế Bắc Tống ban hành lệnh cấm tái bản trái phép “Chín Sách”. Guo Zi Jian là nhà xuất bản quốc gia đời nhà Đường đã công bố cuốn sách này vào năm 932. Các nhà xuất bản đời nhà Tống là những người đầu tiên nhận thức vấn đề bảo hộ bản quyền. Ví dụ, một người tên Cheng thuộc nhà xuất bản Meishan ở Sichuan đã in cuốn sách “Lịch sử Đông Kinh”, ở “trang bản quyền” đề rằng, “[sách này]” được in bởi Cheng ở nhà xuất bản Meishan, người được thừa hưởng bảo hộ từ bậc tiền bối, nghiêm cấm mọi hình thức tái bản”2.
Trong khi đó, ở châu Âu, “Trước thế kỷ XV, con người chưa nhận thức về quyền của chủ thể tạo ra một tác phẩm trí tuệ - tài sản vô hình. Luật pháp chỉ quy định và bảo vệ quyền của người đang sở hữu những vật gắn liền với tác phẩm hay sản phẩm trí tuệ. Ví dụ pháp luật nghiêm cấm hành vi trộm cắp quyển sách, bức tranh. nhưng không cấm việc sao chép quyển sách hay bức tranh đó.
Vì vậy, thời kỳ này tương truyền chuyện rằng, khi không muốn bài viết bị thay đổi, tác giả chỉ còn có cách gắn một lời nguyền rủa vào quyển sách của mình, như Eike von Repgow, tác giả cuốn Sachsenspiegel - một quyển sách ghi chép lại các luật lệ đương thời, đã nguyền rủa những người giả mạo tác phẩm của ông sẽ bị bệnh hủi3”. Như vậy, từ thời cổ đại và trung đại, tuy chưa xuất hiện những thuật ngữ như QTG, bản quyền, quyền nhân thân, quyền tài sản. nhưng những người sáng tác bắt đầu nhận thức cần phải bảo vệ sản phẩm tinh thần của mình. Những câu nguyền rủa thôi chưa đủ mà buộc họ phải phối hợp với những người có khả năng in ấn, nhân bản để vừa hưởng những lợi ích từ tác phẩm, vừa được thừa nhận mình là người duy nhất tạo ra tác phẩm đó, với tư cách là tác giả.
Thời kỳ Phục hưng, vào khoảng giữa thế kỷ XV, công nghệ in ấn phát triển, dẫn đến việc sao chép tác phẩm trên giấy ngày càng phổ biến và dễ dàng hơn. Tuy chưa có cái gọi là “Quyền tác giả” nhưng người sáng tạo tác phẩm rất phấn khởi, vui mừng vì sản phẩm của mình được dễ 1 Nguyễn Vân Nam (2017: Quyền tác giả- đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ, trang 37 2 Trần Văn Nam. (chủ biên) (2014): “Quyền tác giả ở Việt Nam: Pháp luật và thực thi”, NXB Tư Pháp, trang 152 – 153 3 https://voer.vn/m/quyen-tac-gia/78495915 2 dàng phổ biến đến công chúng; đồng thời nhận từ nhà in một khoản thù lao. Tuy nhiên, do thiếu luật lệ cấm đoán nên khi tác phẩm được nhà in đầu tiên nhân bản cũng là lúc họ phải đối diện với nạn sao chép tràn lan bởi những nhà in khác.
Điều này, khiến cho nhà in đầu tiên kinh doanh khó khăn, thậm chí thua lỗ, vì họ phải trả thù lao cho tác giả, chi phí in ấn để tạo ra bản sao có chất lượng tốt nhất. Trong khi đó, các nhà in sao chép lại không phải trả thù lao cho tác giả, không chú trọng nhiều chất lượng bản in nên giá thành rẻ hơn nhiều. Những tác phẩm được nhiều nhà in xuất bản và phát hành đứng trước nguy cơ bị tranh giành, mạo nhận tác giả; thêm vào đó, việc sao chép lại của những nhà in khác có thể vô tình hay cố ý làm mất tính nguyên vẹn của tác phẩm (tam sao thất bản). Những điều này khiến tác giả không thể hài lòng, cảm thấy phiền phức khi “đứa con tinh thần” của mình bị coi thường, uy tín bị xâm hại; nhà in đầu tiên bị cạnh tranh không lành mạnh và gánh chịu nhiều thiệt hại vật chất.
Để ngăn chặn kịp thời hành vi xâm hại quyền lợi của mình và của tác giả, các cơ sở in tiến hành xin phép chính quyền chỉ thừa nhận họ độc quyền in ấn tác phẩm trong một thời gian nhất định. Những người đứng đầu chính quyền cũng nhận thức được lợi ích mà họ được hưởng từ việc này nên đưa ra quy định “Cấm việc in lại một tác phẩm trong một thời gian nhất định”. Tuy nhiên, quy định cấm này mới chỉ có ý nghĩa đối với những nhà xuất bản, theo đó, họ được phép độc quyền kinh doanh sau khi đã trả nhuận bút; tuy nhiên, đối với tác giả vẫn chưa được bảo đảm quyền sở hữu đối với tác phẩm trí tuệ của mình1. Như vậy, nhận thức cũng như quy định của pháp luật về quyền và lợi ích vật chất, tinh thần của người sáng tác, in ấn dần hình thành qua các giai đoạn khác nhau và ngày càng rõ nét hơn.
Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền, lợi ích vật chất của nhà in được chú trọng hơn so với quyền của người sáng tác. Tác giả có vai trò mờ nhạt, không được giữ vị trí trung tâm trong lĩnh vực bản quyền, mà thay vào đó là chủ các nhà in. Điều này rõ ràng bất công đối với tác giả - chủ thể sáng tạo nhưng ở thế yếu hơn so với chủ nhà in, thậm chí lệ thuộc nhà in. Đến thời kỳ Hậu Phục Hưng, cùng với các phong trào giải phóng nhân quyền, sự trỗi dậy ý thức cá nhân trở nên mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ quyền của mình, đã nổ ra những cuộc cách mạng chống lại bất công đó.
Tiên phong của những cuộc cách mạng này bao gồm các thành phần tri thức, nhà tư tưởng, đồng thời cũng là những ký giả, tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng về chính trị, xã hội; họ quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình đối với tác phẩm. 1 Trần Văn Nam (chủ biên) (2014) : Quyền tác giả ở Việt Nam – pháp luật và thực thi, NXB Tư Pháp, trang 12. 3 Có thể kể đến Marcus Antonius tác giả cuốn Lịch sử thành Vencie và Petrus Franciscus tác giả cuốn Foenix đấu tranh để được thừa nhận quyền cho phép một nhà xuất bản nào đó – có cách in cuốn sách mà ông vừa ý nhất. Sự đấu tranh này dẫn đến năm 1492, buộc chính quyền thành phố Vencie phải thừa nhận cho tác giả những đặc quyền này với lý do “Để không một ai khác gặt hái thành quả của sự cố gắng và những đêm thức trắng của ông ấy”.
Tại Đức, năm 1532, tác giả Luther đã khiếu nại thành công Tòa thị chính thành phố Nuremberg cho phép ông có quyền buộc bất cứ ai khi in lại tác phẩm của ông, phải đề tên ông, nơi công bố sách và phải thật cẩn trọng khi hiệu đính bản in sách. Kể từ đó, vua Đức đã cấp hàng loạt đặc quyền tác giả1. Như vậy, việc thừa nhận và bảo vệ QTG được hình thành thông qua những cuộc đấu tranh mạnh mẽ và trước những áp lực này, đòi hỏi nhà cầm quyền phải nhượng bộ bằng cách ban hành pháp luật để cân bằng, hài hòa lợi ích của tác giả với nhà in. Cụ thể năm 1710, nước Anh tiên phong ban hành đạo luật Statue of Anne, lần đầu tiên quy định độc quyền sao chép của tác giả.