phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ giảng dạy các trường ĐH, CĐ trên địa bàn Ninh Bình từ năm học 2005 - 2006 đến nay. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ trên địa bàn Ninh Bình. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở VIỆT NAM 1.
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ 1. Khái niệm giảng viên các trƣờng Đại học và Cao đẳng Trước hết cần khẳng định, đội ngũ giảng viên trong các trường đại học và cao đẳng là đội ngũ những trí thức. Họ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đào tạo nhân tài, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực với chất lượng ngày càng cao phụng sự sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Để có được khái niệm tương đối đầy đủ về đội ngũ này, cần thiết phải hiểu những đặc trưng cơ bản của đội ngũ trí thức nói chung.
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức. Khoảng hơn 60 quan niệm khác nhau về trí thức đã được công bố. Nhưng chắc chắn những định nghĩa chưa dừng lại ở con số đó. Đó là điều bình thường vì trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người không ngừng phát triển.
Đội ngũ trí thức- nguồn vốn vô cùng quý giá của đất nước- ngày càng đông đảo, với chất lượng ngày càng cao. Theo Từ điển tiếng Nga (11/1991): Trí thức là những người có học vấn và kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa và đang làm nghề lao động trí óc. Trong Từ điển tiếng Nga do C. Ozegov chủ biên, thì khái niệm trí thức được định nghĩa là những người lao động trí óc có học vấn, có kiến thức nghề nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học, kỹ thuật và văn hóa.
Trong Từ điển bách khoa Liên Xô (1985) do A. Prokhorov chủ biên thì khái niệm trí thức lại được khai thác từ chức năng xã hội: trí thức là tầng 7 lớp những người làm nghề lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hóa. Tương tự như vậy, trong Từ điển bách khoa Triết học (tiếng Nga M. 1983) chúng ta thấy định nghĩa trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động trí óc và thường có học vấn cao tương xứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa.
Ở nước ta, cần đặc biệt lưu ý đến định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh về trí thức. Trong sửa đổi lề lối làm việc, sau khi đánh giá cao vai trò của những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là, hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra.
Hai là, hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”, “ Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song Y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc và không biết làm nhiều việc khác.
Thế là Y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của Y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Muốn trở thành trí thức hoàn toàn thì Y phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”. Từ những định nghĩa và quan niệm kể trên, có thể khái quát người trí thức có hai đặc trưng cơ bản sau đây: Một là, làm nghề lao động trí óc - lao động phức tạp, có sức sáng tạo, phát triển và trình độ chuyên môn cao.
Hai là, có học vấn cao và có khả năng truyền bá văn hóa. Đương nhiên, ngoài hai đặc trưng cơ bản trên, đòi hỏi người trí thức còn phải có lương tri. Cho nên, không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn người trí thức phải luôn luôn chú ý cả hai mặt “đức” và “tài”, “Đức” là gốc, “tài” là cái quan trọng không thể thiếu. Thiếu đức hoặc tài đều không phải là người trí thức hoàn toàn.
8 Từ sự phân tích trên đây, có thể khái quát: Đội ngũ giảng viên trong các trường đại học và cao đẳng là đội ngũ những trí thức làm nghề lao động trí óc, có sức sáng tạo, phát triển; có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cao; có khả năng truyền bá những kiến thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, truyền bá văn hóa nói chung, góp phần đào tạo nhân tài, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Để hiểu rõ hơn về đội ngũ giảng viên các trường đại học và cao đẳng, cũng cần thiết phải hiểu các chức năng của đội ngũ này. Có 4 chức năng sau đây: Thứ nhất: Chức năng nghiên cứu, sáng tạo kiến thức khoa học đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần giải quyết những nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Thứ hai: Chức năng truyền bá kiến thức khoa học, góp phần đào tạo nhân tài, đào tạo những lớp trí thức mới cho đất nước.
Thứ ba: Chức năng phê phán xã hội. Biết nhìn nhận rõ những hiện tượng kinh tế - xã hội đang diễn ra và dám bảo vệ chân lý, phê phán những gì không đúng, không hợp lý. Thứ tư: Chức năng xã hội, thể hiện ở sự tham gia các hoạt động xã hội hoặc những công việc mang tính xã hội phù hợp với khả năng của bản thân. Như vậy, khái niệm đội ngũ giảng viên và khái niệm nguồn nhân lực giáo dục là những khái niệm khác nhau, mặc nhiên chúng có liên quan với nhau.
Khái niệm nguồn nhân lực giáo dục có nội hàm rộng hơn. Nó bao hàm đội ngũ giảng viên. Ngoài ra nó còn bao hàm “những binh chủng” phòng, ban, trung tâm, đảm nhận những công việc quản lý, hành chính, chuẩn bị những điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, thi đua, khen thưởng, động viên tinh thần,… phục vụ nhiệm vụ đào tạo. Xếp loại ngạch bậc đội ngũ giảng viên Hiện nay, đội ngũ giảng viên trong các trường ĐH, CĐ được xếp ở 3 ngạch: Ngạch giảng viên, ngạch giảng viên chính và ngạch giảng viên cao cấp.
Ngạch giảng viên. Chức trách. Là viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH, CĐ thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường ĐH, CĐ. Nhiệm vụ cụ thể.
- Giảng dạy được các môn học theo chuyên môn được phân công. - Tham gia hướng dẫn và đánh giá, chấm luận văn, đồ án tốt nghiệp ĐH, CĐ. - Soạn bài giảng, tham gia viết giáo trình, biên soạn tài liệu tham khảo môn học được phân công đảm nhiệm. - Tham gia các đề tài NCKH, chủ yếu ở cấp khoa hoặc trường.
- Thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn và nghiệp vụ theo quy chế các trường ĐH, CĐ. - Tham gia quản lý đào tạo (nếu có yêu cầu): Chủ nhiệm lớp, chỉ đạo thực tập,… c. - Hiểu và vận dụng đúng đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành trong công tác giáo dục - đào tạo ĐH, CĐ. - Nắm vững kiến thức (lý thuyết và thực hành) môn học được phân công.
- Nắm được mục tiêu, kế hoạch, chương trình các môn học thuộc chuyên ngành đào tạo; quy chế giảng dạy, học tập và NCKH của nhà trường. - Hiểu biết và có khả năng vận dụng những vấn đề cơ bản của lý luận dạy học ĐH, CĐ để nâng cao chất lượng giảng dạy và NCKH. Yêu cầu trình độ. - Có bằng cử nhân trở lên.
- Đã qua thời gian tập sự theo quy định hiện hành. - Sử dụng được một ngoại ngữ (Anh ngữ) trong chuyên môn. Đối với giảng viên ngoại ngữ (yêu cầu phải sử dụng được một ngoại ngữ thứ hai). Ngạch giảng viên chính.
Chức trách. Là viên chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH, CĐ. Nhiệm vụ cụ thể. - Giảng dạy có chất lượng các môn học được phân công theo chuyên môn.
Tham gia giảng dạy ít nhất một chuyên đề đào tạo hoặc bồi dưỡng Sau đại học. Tham gia bồi dưỡng sinh viên giỏi - sinh viên tài năng. - Chủ trì hướng dẫn, chấm luận văn, đồ án tốt nghiệp ĐH, CĐ. Chủ trì hoặc tham gia hướng dẫn luận văn Cao học, tham gia phản biện luận án Tiến sĩ, tham gia hướng dẫn Nghiên cứu sinh (nếu có bằng Tiến sĩ và chuyên môn phù hợp).
Có trách nhiệm bồi dưỡng giảng viên theo yêu cầu phát triển chuyên môn, nghiệp vụ của bộ môn. - Chủ trì hoặc tham gia thiết kế, xây dựng mục tiêu, kế hoạch, chương trình đào tạo. - Chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình (hay một phần giáo trình) môn học, tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, đào tạo. - Chủ trì hoặc tham gia đề tài NCKH chủ yếu ở cấp trường, Bộ, Ngành; tham gia viết các báo cáo khoa học, trao đổi kinh nghiệm đóng góp vào sự phát triển của bộ môn hay chuyên ngành đào tạo ở trong nước, ngoài nước.
- Thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ GD-ĐT và của nhà trường. - Tham gia quản lý đào tạo (nếu có nhu cầu). - Hiểu biết sâu và có kinh nghiệm vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Ngành trong GD-ĐT. - Hiểu sâu (cả lý thuyết và thực hành) môn học được phân công và nắm được kiến thức cơ bản của môn học có liên quan trong chương trình đào tạo.
- Nắm vững mục tiêu, kế hoạch, chương trình các môn học thuộc chương trinh đào tạo, thực tế và xu hướng phát triển của đào tạo, NCKH chuyên ngành trong nước và ngoài nước. - Biết tập hợp, tổ chức cho giảng viên, sinh viên tiến hành NCKH, thực nghiệm, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác và thực tiễn sản xuất, đời sống KT-XH. Yêu cầu trình độ. - Có bằng Thạc sĩ trở lên.
- Có thâm niên ở ngạch giảng viên ít nhất 9 năm (tương đương bậc lương từ 3,66 trở lên).