Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá thẩm định chƣơng 66 trang trình giáo dục đại học Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá thẩm định 46 trang chƣơng trình giáo dục đại học ở Việt Nam Chương 3: Bộ tiêu chuẩn và quy trình đánh giá thẩm 70 trang định chƣơng trình giáo dục đại học III. Phần kết luận và khuyến nghị 5 trang IV. Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên 6 công trình quan đến luận án đã đƣợc công bố V. Tài liệu tham khảo 105 tài liệu Tiếng Việt 66 Tiếng Anh 37 Tiếng Trung 2 VI.
Phụ lục 14 phụ lục 9 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THẨM ĐỊNH CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Chƣơng trình (Curriculum) Theo các chuyên gia GD, việc nghiên cứu CT là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khó khăn và phức tạp của GD. CT thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ ngƣời học, ngƣời dạy, ngƣời tuyển dụng lao động, các tổ chức tôn giáo, chính trị v.
nên có nhiều quan niệm khác nhau và làm cho khái niệm này trở nên phức tạp. Tuỳ thuộc vào cách lý giải ngƣời ta có thể hiểu và định nghĩa CT khác nhau. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, CT đƣợc hiểu khá hẹp, chẳng hạn Phenix (1962) cho rằng đó là “toàn bộ những kiến thức được cung cấp bởi các môn học” hoặc Oliva (1988) cho rằng đó là “một hệ thống các khóa học hay môn học cần phải có để được tốt nghiệp hoặc được cấp chứng nhận đã học xong một ngành học”. Hiện nay, khái niệm CT nhìn chung đƣợc thừa nhận ở quy mô lớn hơn nhiều, đặc biệt nhấn mạnh đến các hình thái khác nhau của nó, quan tâm nhiều đến sự phát triển của kỹ năng và các giá trị khác, chẳng hạn Doll (1992) cho rằng đó là “toàn bộ nội dung giáo dục chính thức và không chính thức cùng cách tiến hành của một nhà trường, thông qua đó người học có thể thu nhận kiến thức và sự hiểu biết; phát triển kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức” [33, tr.
10 z Tuy nhiên định nghĩa mang tính học thuật cao và đƣợc nhiều chuyên gia GD trên thế giới sử dụng nhất là định nghĩa của Tim Wentling, 1993 "CT là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm). Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì ta có thể trông đợi ở sinh viên sau khoá học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phương pháp đào tạo và các cách thức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” [43, tr. Mặc dù thuật ngữ CT đƣợc dùng khá lâu trong tiếng Việt, khái niệm này vẫn còn đang đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp. Trong từ điển GD học, CT trong phạm vi GD đƣợc định nghĩa là: “toàn bộ những kiến thức phải học trong một bộ môn, 1 lớp, 1 khoá mà thí sinh phải biết khi dự kỳ thi” [29, tr.
170] hoặc “Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết với thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo” [34, tr. Theo Điều 41 của Luật Giáo dục: “Chương trình thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình khác. 30- 34] Những quan niệm dẫn ra trên đây về CT trong nghĩa rộng, hẹp có khác nhau song đều có sự thống nhất cơ bản: CT là bản thiết kế tổng thể cho một 11 z hoạt động đào tạo bao gồm các thành phần chính là mục tiêu, nội dung, thời lượng đào tạo, các yêu cầu của CT, hướng dẫn thực hiện CT và các ĐCMH, v.1: Cấu trúc chính của chương trình giáo dục đại học Mục tiêu đào tạo của CT Danh sách các Thời lƣợng Các yêu cầu môn học các môn học của CT Danh sách các Thời lƣợng Hƣớng dẫn khối kiến thức các khối kiến thực hiện CT thức v. Chƣơng trình khung (Curriculum Standard) Theo từ điển Giáo dục của Mỹ, chƣơng trình khung là “những quy định chung về nội dung đào tạo cho tất cả các sinh viên thuộc một ngành học cụ thể”.
48] Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam, chƣơng trình khung là “văn bản Nhà nƣớc ban hành cho từng ngành đào tạo cụ thể, trong đó quy định cơ cấu nội dung môn học, thời gian giữa các môn học cơ bản và chuyên môn; giữa lý thuyết với thực hành, thực tập. Nó bao gồm khung chƣơng trình cùng với những nội dung cốt lõi, ít thay đổi theo thời gian và đƣợc các trƣờng có đào tạo đều thừa nhận là không thể thiếu đƣợc. Căn cứ vào chƣơng trình khung, các trƣờng đại học xây dựng chƣơng trình của trƣờng mình”. Đề cƣơng môn học (Syllabus) Trong đại từ điển Tiếng Việt, ĐCMH là “nội dung kiến thức và kỹ năng về một môn học ấn định cho từng lớp, cấp trong từng năm học” [66, tr.
12 z Hiện nay, ở Việt Nam còn có nhiều cách gọi khác nhau về ĐCMH nhƣ CT môn học, CT bộ môn, CT chi tiết môn học, ĐCMH, đề cƣơng chi tiết môn học v. để cùng chỉ một văn bản trong đó có các thông tin về môn học, mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp kiểm tra - đánh giá v. Trong khuôn khổ của luận án, ngƣời nghiên cứu sử dụng chung là ĐCMH. Trong từ điển GD học, ĐCMH là “Văn bản Nhà nước quy định với từng môn học về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, khối lượng kiến thức và kỹ năng, kế hoạch phân bố, thời lượng cần thiết, phương pháp thích hợp, phương tiện tương ứng theo từng lớp học, bậc học.
Chương trình bộ môn của mỗi lớp (năm) học được trình bày theo trình tự chương, mục, chủ đề, vấn đề song song với bảng phân bố thời lượng tương ứng. 53] Tại ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐCMH do giảng viên biên soạn và đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt để cung cấp cho ngƣời học trƣớc khi môn học đƣợc bắt đầu triển khai giảng dạy, gồm có các nội dung chủ yếu sau đây: Thông tin về giảng viên, thông tin chung về môn học, mục tiêu của môn học, tóm tắt nội dung môn học, nội dung chi tiết môn học, học liệu, hình thức tổ chức dạy học, chính sách đối với môn học và phương pháp, hình thức kiểm tra - đánh giá [24, tr. Đây chính là khái niệm đƣợc luận án sử dụng. Đánh giá thẩm định chƣơng trình (Curriculum Appraisal Evaluation) Theo tài liệu của UNESCO, “đánh giá chương trình là quá trình phân tích tổng thể có hệ thống, có phê phán để đi đến nhận xét về chất lượng của chương trình” [102, tr.
Theo Campbell và Rozsnyai “đánh giá chương trình là quá trình đưa ra nhận xét và/hoặc giới thiệu về chất lượng chương trình” [81, tr. Theo Nguyễn Kim Dung (2006), “đánh giá chương trình là quá trình xem xét toàn bộ các thành tố của chương trình để kiểm tra chương trình có 13 z đạt được tất cả những mục tiêu theo các phương pháp đã đề ra hay không” [20, tr. Thẩm định là “xem xét để xác định về chất lượng” [66, tr. Trong luận án này, đánh giá thẩm định CT đƣợc hiểu là một công đoạn đầu tiên của đánh giá CT, là quá trình xem xét toàn bộ văn bản CT sau khi biên soạn xong (gồm mục tiêu, nội dung, thời lƣợng, ĐCMH v.v …) để đi đến nhận xét về chất lƣợng CT, giúp cơ quan có thẩm quyền ra các quyết định về CT (chƣa đánh giá kết quả của việc thực hiện CT).
Tiêu chuẩn (Standard) Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tiêu chuẩn là “điều được quy định dùng làm chuẩn để phân loại đánh giá” [66, tr. Theo Hội đồng Kiểm định các trƣờng ĐH của Mỹ, tiêu chuẩn đƣợc hiểu là “mức độ yêu cầu nhất định mà các trường đại học hoặc các chương trình cần phải đáp ứng” (CHEA, 2001) [83]. Theo Nguyễn Kim Dung và Phạm Xuân Thanh “Tiêu chuẩn là khái niệm dùng để biểu thị những đặc tính, phẩm chất của chất lượng mà chúng ta muốn đạt được” [21, tr. Trong luận án này tiêu chuẩn đƣợc hiểu là các yêu cầu đối với CT.
Tiêu chí (Criteria) Theo từ điển GD học, tiêu chí là “dấu hiệu, tính chất được chọn làm căn cứ để so sánh, đối chiếu, xác định mức độ kết quả đạt tới của những thứ cần đánh giá. Tiêu chí đánh giá là công cụ rất quan trọng để xác định chất lượng nói chung và chất lượng giáo dục và đào tạo nói riêng. Việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá căn cứ vào các dấu hiệu cơ bản, tiêu biểu cho bản chất của sự việc thì mới đảm bảo tính chính xác trong công tác đánh giá, mới phân biệt được xấu tốt, thật giả một cách đúng đắn, khách quan. Với mỗi đối tượng, sự vật, với mỗi hoạt động dạy học trong từng môn, về từng lĩnh vực 14 z cần có những tiêu chí riêng phù hợp với cả loạt cá thể tương ứng cần đánh giá và phải được những nhà chuyên môn có thẩm quyền thẩm định và chấp nhận” [34, tr.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tiêu chí là “đặc trưng, dấu hiệu làm cơ sở, căn cứ để nhận biết, xếp loại các sự vật, các khái niệm” [66, tr. Tiêu chí đƣợc xem nhƣ “những điểm kiểm soát và là chuẩn để đánh giá chất lượng của đầu vào và quá trình đào tạo” (Johnes & Taylor, 1990) [21, tr. Theo tài liệu của UNESCO, “tiêu chí dùng để đo việc đạt mục tiêu. Các tiêu chí mô tả các yêu cầu và điều kiện cần phải đáp ứng (để đáp ứng tiêu chuẩn), từ đó rút ra kết luận đánh giá” [103, tr.
Theo Nguyễn Kim Dung và Phạm Xuân Thanh “tiêu chí là sự cụ thể hoá của tiêu chuẩn, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng” [21, tr.