CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC 1. Khái quát chung về tự chủ đại học 1. Các khái niệm chung a. Khái niệm về giáo dục đại học Theo từ điển tiếng Việt: “Đại học là bậc học trên trung học, dưới cao học” [45].
Với cách giải nghĩa này, có thể hiểu, đại học là một cấp học cao có sự thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng được truyền tải bởi người thầy hoặc từ sách vở. Giáo dục đại học (tiếng Anh: higher education – giáo dục bậc cao) là giai đoạn giáo dục thường diễn ra ở các trường đại học, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, học viện và viện công nghệ. Giáo dục đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học và sau đại học, gồm cả một số CSGD bậc đại học hay cao đẳng như các trường huấn nghệ và trường kinh doanh có trao văn bằng học thuật hay cấp chứng chỉ chuyên nghiệp [51]. Trên cơ sở thực tiễn của Hoa Kỳ và châu Âu, trường đại học nói chung được hiểu là cộng đồng của những người theo đuổi tri thức, tức giảng viên và sinh viên.
Nó được xem là “nơi cung cấp kiến thức”, “ngôi đền của tri thức”, “trung tâm của quyền lực trí tuệ”, “nơi bảo vệ quyền lực của mọi loại tri thức”, và là một “trung tâm sáng tạo tri thức, xem xét lại mọi tri thức, phổ biến tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức” [37]. Còn theo Luật Giáo dục Đại học 2012 định nghĩa đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học [40]. Như vậy có thể khái niệm: Giáo dục đại học là bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, là hoạt động của các CSGD đại học để thực hiện nhiệm vụ 19 nghiên cứu khoa học và đào tạo các trình độ được đào tạo cao nhất của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội: trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ Thạc sĩ, và trình độ Tiến sĩ. Ở Việt Nam hiện nay, với sự ra đời của Luật giáo dục nghề nghiệp thì giáo dục nghề nghiệp thực hiện nhiệm vụ đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, trừ đào tạo trình độ cao đẳng sư phạm.
Vì vậy đào tạo trình độ cao đẳng sư phạm vẫn thuộc nhiệm vụ của hệ thống giáo dục đại học. Khái niệm về tự chủ đại học Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về tự chủ đại học, thậm chí quan niệm tự chủ ở tầm mức rất cao, gọi là “tự trị đại học” tùy theo nhận thức về vai trò của nhà nước đối với giáo dục đại học. Các ý tưởng về tự trị đại học ở châu Âu có nguồn gốc xa xưa từ những quan điểm triết học Hy Lạp cổ đại, cao nhất là của Platon đã cho rằng để có được khoa học và chân lý, cần phải được đối thoại tự do, truy tìm chân lý trong không khí tự do. Ý tưởng tự do nghiên cứu này làm nền tảng cho các đại học của Đức nói riêng và châu Âu nói chung sau này.
Đến thế kỷ XVIII, Đại học Humboldt ra đời lấy “tự do” làm nguyên lý của lĩnh vực khoa học, làm tinh thần và đạo đức của người nghiên cứu khoa học. Khoa học là căn bản cho mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, nhưng chỉ khi khoa học được “theo đuổi một cách trung thực và thích đáng”, khoa học mới thực sự là thuần túy, làm gốc sản sinh ra “cái tốt” và “chân lý”. Như vậy, tự trị và tự do nghiên cứu là những thuộc tính gắn liền với sự ra đời và phát triển của trường đại học. Ở Châu Âu, khi Humboldt thành lập Đại học Berlin vào thế kỷ XVIII đã dựa trên các nguyên lý nền tảng, trong đó có “tự do học tập và tự do giảng dạy” và “đại học cần được tự chủ, không có sự can thiệp của nhà nước”.
Các nguyên lý của Humboldt không chỉ là hình mẫu để hình thành đại học ở các nước Châu Âu mà còn các châu lục khác. Ngày nay, trong luật của hầu hết 20 các quốc gia châu Âu đều có quy định về quyền tự chủ của các trường đại học và quyền tự trị đại học đã là một điều kiện tiên quyết, quan trọng cho sự thành công của các trường đại học của Châu Âu. Tại đây, quan niệm tự trị đại học thể hiện trên hai khía cạnh chính: (i) Thoát ra khỏi sự kiểm soát, hạn chế của các cơ quan quản lý nhà nước, của thị trường lao động, nhà cung cấp dịch vụ và các ảnh hưởng chính trị; (ii) Quyền tự do đưa ra các quyết định về cách thức tổ chức hoạt động cũng như mục tiêu sứ mạng của trường [27]. Tuyên bố “Magna Charta Universitatum” của Liên hiệp các đại học Châu Âu năm 1988 đã khẳng định “trường đại học là một tổ chức tự chủ nằm ở trái tim/trung tâm của mọi xã hội”.
Tuyên bố Magna không chỉ có giá trị pháp lý mà còn có giá trị về đạo đức, vừa thể hiện tự chủ đại học là gì, vừa chỉ rõ tự chủ đại học trong đó tự do học thuật là một phần của trường đại học tự chủ, “để đáp ứng nhu cầu của thế giới xung quanh, trường đại học nghiên cứu và giảng dạy một cách độc lập về trí tuệ và theo đạo đức đối với tất cả quyền lực kinh tế và chính trị”. Theo Hiệp hội quốc tế các trường đại học (International Association of Universities – IAU), tự chủ đại học là việc trường đại học được cung cấp những quyền tự do cần thiết, không chịu sự can thiệp của bên ngoài trong việc sắp xếp tổ chức và điều hành nội bộ cũng như phân bổ nguồn tài chính và tạo thu nhập từ các nguồn ngoài phần phân bổ của nhà nước; tự do trong việc tuyển dụng nhân lực và bố trí điều kiện làm việc; tự do trong công tác điều hành giảng dạy và nghiên cứu. Hiện nay, trên thế giới, khái niệm “tự chủ đại học” nói đến các mối quan hệ đang thay đổi giữa nhà nước và các trường đại học [49]. Xu hướng thay đổi cơ bản là phát huy truyền thống tự do học thuật và giảm dần sự kiểm soát trực tiếp của các cơ quan công quyền đối với trường đại học.
Từ góc độ này, tự chủ đại học là quyền tự do của thể chế đại học trong việc ra quyết định và thực thi các quyết định đối với các hoạt động nội bộ của đại học mà không 21 có sự kiểm soát hay can thiệp của nhà nước và bất kỳ sự ảnh hưởng nào nếu có của nhà nước cũng đều phải dựa trên cơ sở pháp luật. Tự chủ đại học là tự chủ thể chế đại học với nghĩa là tự chủ của trường đại học và tự chủ này được thể chế hóa bởi hệ thống các chính sách, pháp luật của nhà nước. Ở Việt Nam, khái niệm “tự chủ” bắt đầu xuất hiện và phát triển trong quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với CSGD đại học theo tinh thần xã hội hóa bảo đảm các đơn vị có sự thống nhất, trong khuôn khổ quản lý nhà nước, vừa phân cấp quản lý, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học và thu hút sự hợp tác, tham gia của các bên liên quan. Khái niệm này cũng bắt nguồn từ ảnh hưởng của mô hình ĐH Xôviết trước đây (chuyên sâu, khép kín, đơn ngành; thiên về hàn lâm, lý thuyết) sang mô hình đa ngành, liên thông, tích hợp và linh hoạt,.; từ quản lý mang nặng tính hành chính sang tự chủ; đáp ứng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ giáo dục đại học và hội nhập quốc tế.
Tự chủ đại học ở Việt Nam là tự chủ theo quy định pháp luật, gắn với tự chịu trách nhiệm và được thể chế hóa từng phần trong từng lĩnh vực hoạt động của các cơ sở đại học. Từ các khái niệm về tự chủ và tự chủ đại học có thể thấy quyền tự chủ của các CSGD đại học được hiểu theo nghĩa phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan, các bộ phận cấu thành nên một hệ thống. Ở góc độ nhà trường nó được hiểu là khả năng tự ra các quyết định về quản lý của nhà trường trong khuôn khổ các quy định cho phép. Ở góc độ quốc gia, quyền tự chủ phản ánh mối quan hệ giữa nhà trường với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu hoạt động của mình.
Xét về mặt thực chứng, Quyền tự chủ đại học được hiểu là các quy định của pháp luật phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước với các CSGD đại học trong việc thực hiện mục tiêu tự do học thuật, tự chủ quản trị và các điều kiện giải trình bắt buộc để thực hiện quyền tự chủ của mình. 22 Như vậy tự chủ đại học có thể được định nghĩa là mức độ độc lập cần thiết của các CSGD đại học đối với những tác nhân can thiệp từ bên ngoài để nhà trường có thể thực hiện hiệu quả công tác quản trị và tổ chức nội bộ, phân bổ các nguồn lực tài chính trong phạm vi nhà trường, chủ động trong việc tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, việc tuyển dụng nhân sự, việc xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập và nghiên cứu, và cuối cùng, quan trọng nhất là quyền tự do trong việc tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu và giảng dạy, tự do học thuật. Khái niệm pháp luật về tự chủ đại học Pháp luật về tự chủ đại học là hệ thống các quy định pháp lý được ban hành nhằm xác định quyền, nghĩa vụ và cơ chế quản lý cho các CSGD đại học trong việc tự chủ.