Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Xuất phát từ nghiên cứu xã hội học và văn hóa tổ chức thì VHNT là một nội dung quan trọng trong quản lí nhà trường.
Đi sâu vào vấn đề này, trên thế giới, nhiều nhà khoa học GD nổi tiếng đã có những công trình nghiên cứu về VHNT như: Theo Jerald, C.(2006), từ những năm 1930, xã hội học đã công nhận vai trò quan trọng của VHNT nhưng phải đến những năm 1970, các nghiên cứu về GD mới bắt đầu đưa ra những mối liên hệ trực tiếp giữa không khí nhà trường với kết quả GD của nhà trường đó. Lí thuyết cấu trúc – chức năng của Talcott Parsons trong xã hội học văn hóa đã nhìn nhận văn hóa như một chỉnh thể toàn vẹn, có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác trong hệ thống xã hội. Theo ông, bất kì một hệ thống nào trong xã hội đều có những nét nổi bật chung và nhằm hoạt động thành công như một hệ thống, những điều kiện tiên quyết nhất định phải được thực hiện theo thứ tự tầm quan trọng tăng dần: Thích nghi - Đạt được mục tiêu - Thống nhất - Duy trì kiểu mẫu. Trong đó, điều kiện cuối cùng chính là các giá trị làm nên nền văn hóa của hệ thống xã hội.
Chính hệ thống văn hóa giữ vai trò kiểm soát các phương diện khác (Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2014). Nghiên cứu của Edgar Henry Shein(1996), (culture-the missing concept in organization studies); theo quan niệm của ông, VHNT cũng chính là văn hóa tổ chức. Dưới góc độ văn hóa tổ chức, tác giả Schein, E.H đã nghiên cứu một cách chi tiết về văn hóa tổ chức, các cấp độ cũng như biểu hiện của văn hóa tổ chức, sự hình thành và phát triển của văn hóa trong các loại hình tổ chức khác nhau. Ông đã chỉ ra VHNT bao gồm: những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values), những quan niệm chung (basic underlying Luan van 9 assumption).
Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng phân tích cụ thể vai trò lãnh đạo trong xây dựng, thay đổi nhằm phát triển, cải thiện văn hóa của tổ chức. Những nghiên cứu này của ông được sử dụng như một cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu VHNT – một tổ chức với những đặc trưng riêng biệt. Nghiên cứu của Rexford Brown đã đưa ra các tài liệu dẫn chứng về sự phát triển của các trường đại học tại Mỹ trong 20 năm. Ông khẳng định nếu muốn cải thiện chất lượng một trường học phải thay đổi cấu trúc và nền văn hóa của trường đó.
Ông cũng chỉ ra rằng, trường học không phải là một doanh nghiệp, trường học phức tạp hơn nhiều các tổ chức xã hội và chính trị. Trong đó, con người rất đa dạng, có nhiều văn hóa xung đột vì có thể HS thuộc những dân tộc khác nhau, vùng miền khác nhau, ngôn ngữ địa phương khác nhau và thói quen và đặc điểm truyền thống văn hóa cũng khác. Vì vậy,phát triển VHNT là một việc đặc biệt quan trọng (Rexford Brown, 2004). Phát triển VHNT không phải chuyện ngày một ngày hai mà cần có những bước đi phù hợp.
Có nhiều mô hình được các nhà nghiên cứu đề xuất. Mô hình xây dựng VHNT dựa trên cơ sở mô hình xây dựng văn hóa tổ chức gồm các bước cụ thể do hai tác giả Julie Heifetz & Richard Hagberg đề xuất (Julie Heifetz & Richard Hagberg 2002). Julie Heifetz & Richard Hagberg, hai nhà nghiên cứu khoa học GD đã chỉ ra đâu là giá trị cốt lõi làm cơ sở cho xây dựng VHNT thành công. Các giá trị cốt lõi phải là các giá trị khôngphai nhòa theo thời gian và là linh hồn của nhà trường.
Bên cạnh đó, cũng yêu cầu thường xuyên đánh giá VHNT và thiết lập các chuẩn mực mới, những giá trị mới mang tính thời đại; đặc biệt là các giá trị học tập không ngừng và thay đổi thường xuyên. Việc truyền bá các giá trị mới cho mọi thành viên trong nhà trường cần được coi trọng song song với việc duy trì những giá trị, chuẩn mực tốt đã xây dựng được và lọc bỏ những chuẩn mực, giá trị cũ lỗi thời hoặc gây ra ảnh hưởng tiêu cực cho tiến trình phát triển của VHNT. Ở Việt Nam VHNT từ lâu đã được nghiên cứu ở nước ta nhưng là nghiên văn hóa học đường, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp… trong nhà trường. Luan van 10 VHNT với tính trọn vẹn như văn hóa của một tổ chức chỉ được đề cập đến trong các nghiên cứu gần đây về quản lí, quản lí GD, quản lí nhà trường.
Tác giả Trần Kiểm nghiên cứu theo hướng áp dụng các vấn đề cơ bản của văn hóa tổ chức vào GD và QLGD. Tác giả chỉ ra bộ ba cấu thành nên văn hóa tổ chức đó là nhận thức – hành vi – thái độ và được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố bên trong và với môi trường bên ngoài của tổ chức (Trần Kiểm, 2008). Một số nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến VHNT theo các xu hướng sau: - Quản lý nhà trường theo tiếp cận xây dựng VHNT Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu về quản lí VHNT của mình đã hệ thống lại các vấn đề cơ bản của văn hóa tổ chức cũng như VHNT, từ đó đưa ra những gợi ý và những hướng vận dụng trong xây dựng VHNT đối với các nhà trường ở Việt Nam. Phạm Quang Huân trong bài “văn hóa tổ chức – Hình thái cốt lõi của VHNT” cũng tiếp tục khẳng định, VHNT là văn hóa của một tổ chức.
Tác giả phân tích 7 biểu hiện trong hình thái và cấp độ biểu hiện của VHNT đồng thời đưa ra 5 lí do để khẳng định tầm quan trọng của VHNT đối với chất lượng GD: văn hóa là tài sản lớn của bất kì một tổ chức nào, VHNT tạo động lực làm việc, VHNT hỗ trợ điều phối và kiểm soát, VHNT hạn chế tiêu cực và xung đột, văn hóa nâng cao chất lượng các hoạt động trong nhà trường (Phạm Quang Huân, 2007). Tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đó là việc xây dựng VHNT (hay còn gọi là văn hóa học đường) bằng cách GD giá trị được thể hiện qua ba mặt của VHNT: cơ sở vật chất, môi trường GD và giao tiếp ứng xử. Phát triển một hệ giá trị văn hóa trong nhà trường để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu đạo đức xã hội, giá trị nhân cách hay chúng ta còn gọi là dạy người, bên cạnh dạy chữ và dạy nghề. - Quản lí nhà trường thông qua phát triển văn hóa học đường theo quan niệm của tác giả Vũ Dũng(Hội Khoa học Tâm lý GD Việt Nam, 2009) thì văn hóa học đường được đánh giá qua: + Mối quan hệ ứng xử của các thành viên trong nhà trường: giữa người dạy và người học; giữa người lãnh đạo và GV; giữa các đồng nghiệp.
Luan van 11 + Môi trường sư phạm của nhà trường phải là môi trường sống trong lành, sạch sẽ và không có tiếng ồn. Môi trường mang yếu tố thẩm mỹ không chỉ thể hiện qua cách ăn mặc của thầy cô, của HS mà còn qua hình thức của ngôi trường, các phòng học, logo,. - Quản lí nhà trường theo mô hình phát triển văn hóa “Trường học thân thiện, HS tích cực”đã được một nhóm tác giả như: Phạm Văn Khanh, Lê Ngọc Việt.phân tích mô hình văn hóa học đường dưới góc độ của mô hình trường học thân thiện, HS tích cực do Bộ GD & ĐT phát động. Nó biểu hiện ở ba yếu tố cơ bản cần phát triển gồm: Cảnh quang sư phạm; môi trường sư phạm; văn hóa giao tiếp sư phạm.
Theo tác giả Lê Thị Ngọc Thúy cho rằng quản lí nhà trường theo hướng tiếp cận của văn hóa tổ chức là cách thức quản lí của nhà quản lí cấp cơ sở mà đứng đầu là Hiệu Trưởng và trong quá trình quản lí Trường tiểu học không chỉ tuân thủ theo những giá trị của VHNT và xem nó như là mục tiêu và công cụ để hướng tới mà còn dựa vào các nội dung của VHNT để định hướng được các khâu trong chức năng quản lí của mình. Có như vậy mới góp phần làm nâng cao chất lượng GD cho nhà trường (Lê Thị Ngọc Thúy, 2012). Nhìn chung, các nghiên cứu nói trên định hình cơ sở lý thuyết về VHNT, sự hình thành và phát triển của VHNT, các biểu hiện của VHNT, vai trò của VHNT, vai trò của Hiệu trưởng trong việc phát triển VHNT. Tuy nhiên trên thực tế, việc nghiên cứu và ứng dụng ở các trường THPT có thể kể ra một số đề tài tài sau: “Xây dựng văn hóa học tập ở trường THPT Ngọc Hà - Hà Giang” (Nhân Thị Nga); “Xây dựng VHNT ở các trường THPT huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” (Lưu Văn Mùi); “Biện pháp quản lí việc xây dựng văn hóa học đường của Hiệu trưởng trường THPT Sông Công tỉnh Thái Nguyên” (Lưu Quý Đôn).
Về tổng quan, các đề tài nghiên cứu trên chỉ tập trung nghiên cứu về xây dựng và quản lí xây dựng VHNT ở trường THPT mà chưa đề cập một cách đầy đủ về phát triển VHNT, nhất là về công tác phát triển VHNT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này, tác giả hy vọng sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển VHNT ở các trường THPT, đồng thời đề xuất một số biện pháp trong công tác quản lí phát triển VHNT góp phần phát triển môi trường GD lành mạnh, tích cực’. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa.
Đến nay, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Về thuật ngữ gốc, trong Tiếng Hán cổ, “Văn” có nghĩa là đẹp; “Hóa” là thay đổi, biến hóa. “Văn hóa” có nghĩa là làm biến đổi một cái gì đó cho đẹp, đẹp hơn. Ở đây, văn hóa là giáo hóa, là giáo dục và cảm hóa cá nhân và xã hội theo cái đẹp.
Trong thuật ngữ phương Tây, tiếng Anh, tiếng Pháp từ “Văn hóa” là Culture, có gốc Latinh: Culture = vun trồng. Vun trồng cây cối ngoài đồng, chăm sóc cây từ khi còn là mầm non yếu ớt cho đến khi trưởng thành cho hoa kết trái. Cultus: có nghĩa là thiêng liêng.Chuyển vào trong xã hội, sự nghiệp vun trồng được gọi là Cultura animi = vun trồng tinh thần (vun đắp con người từ nhỏ đến trưởng thành).