Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý của xã hội hoá giáo dục và xã hội hoá giáo dục Trung học phổ thông Chương 2. Thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục của các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn. Các giải pháp tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục - đào tạo Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã có từ rất lâu, đó không phải là vấn đề hoàn toàn mới nếu xem xét nó về bản chất. Hoạt động xã hội hoá giáo dục đã xuất hiện và có bề dày lịch sử trong các chế độ xã hội và thể chế chính trị.
Đảng ta luôn coi trọng vai trò của xã hội hoá giáo dục, xác định là một chủ trương lớn để phát triển giáo dục và được thực hiện từ nhiều năm qua với phương châm: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”. Tư tưởng: “lấy dân làm gốc” đã thể hiện sâu sắc trong quá trình phát triển của lịch sử và chân lý về vai trò của quần chúng nhân dân đã được khẳng định: “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Sự nghiệp giáo dục của Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nêu cao khẩu hiệu: “ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”. Những tư tưởng đó đã trở thành định hướng, thành kim chỉ nam và được vận dụng có hiệu qủa trong công tác giáo dục ở Việt Nam.
Nhân dân ta đã có truyền thống coi trọng việc học. Theo lịch sử hình thành và phát triển của nền giáo dục Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, Nhà nước chỉ mở rất ít trường để dạy học cho con cháu của quan lại và một bộ phận con nhà giàu. Vấn đề học tập của con em nhân dân đều do nhân dân lao động tự lo liệu, dưới hình thức các thầy đồ tự mở lớp (trường tư) hoặc nhân dân tự nguyện góp tiền tổ chức mời thầy dạy (dân lập). Trong hương ước của một số địa phương còn ghi rõ về chế độ học điền (ruộng dành cho việc học), chăm lo vật chất, khích lệ, cổ vũ người học, tôn vinh những người học hành 7 z thành đạt, thể hiện sự quan tâm, chăm lo của xã hội đối với giáo dục.
Những điều đó đã trở thành truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới vấn đề dân trí, Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tháng 10 -1945 Người ra “Lời kêu gọi chống nạn thất học”, phát động phong trào chống nạn mù chữ trong toàn quốc với phương châm: “Những người đã biết chữ dạy cho những người chưa biết chữ. Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ chưa biết thì con cái bảo, người ăn người làm không biết chữ thì chủ nhà bảo; các người giầu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ.
Người nhấn mạnh: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xoá nạn mù chữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cương lĩnh hành động cho phong trào Bình dân học vụ, là cơ sở để tạo lập và xây dựng một nền giáo dục toàn dân ngay sau khi đất nước giành được độc lập. Từ năm 1946, đất nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng nền giáo dục Việt Nam vẫn duy trì và phát triển, góp phần đáng kể vào việc nâng cao dân trí, làm nền móng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mùa xuân năm 1975, khi đất nước hoàn toàn độc lập thống nhất, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục.
Giai đoạn này giáo dục Việt Nam đạt được một số kết quả nhất định trong việc thống nhất hệ thống giáo dục hai miền Nam - Bắc. Song do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có để phát triển mạnh mẽ và bền vững. Cơ sở vật chất của giáo dục bị xuống cấp và lạc hậu, động lực của người dạy và người học giảm sút kéo theo sự phát triển 8 z của nền giáo dục cả về số lượng và chất lượng. Đảng và Nhà nước đã thực hiện các đợt cải cách giáo dục nhưng còn chắp vá, chất lượng giáo dục chưa được đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, nhất là vào thời điểm nhân loại đã bước trong thời kì khoa học và kĩ thuật phát triển mạnh; xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá, đa phương hoá là quy luật tất yếu để phát triển đất nước.
Từ đó đến nay, tại các kỳ Đại hội Đảng, các Hội nghị của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định giáo dục - đào tạo là động lực, là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội và xác định chủ trương thực hiện phát triển giáo dục - đào tạo: “Tăng cường đầu tư cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo”. Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới đều rất quan tâm đến việc xây dựng và củng cố công tác giáo dục gắn liền với phát triển cộng đồng với mục đích vì lợi ích cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống. Như vậy, xã hội hoá giáo dục là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng nhằm trả lại bản chất xã hội cho giáo dục, và giáo dục có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của xã hội đề ra. Nhiều tác giả trong nước đã tập trung nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục nhằm làm sáng rõ những quan điểm của Đảng, nêu lên những giải pháp tổ chức thực hiện.
Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục Trung học phổ thông * Nghiên cứu xã hội hoá giáo dục THPT ở nước ngoài Từ lâu, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công nghiệp hiện đại – kinh tế phát triển cao. Có thể khẳng định rằng, mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có khác nhau nhưng đều có điểm chung là huy động mọi nguồn lực và mọi điều 9 z kiện cho phát triển giáo dục. Ở những nước tiên tiến, việc quan tâm đầu tư cho giáo dục qua quá trình huy động sức mạnh của nhà nước và các tầng lớp xã hội, nâng cao mặt bằng tri thức, đưa dân trí ngang tầm thời đại để con người làm chủ nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp.
Ở những nước đang phát triển, việc huy động các nguồn lực cho giáo dục là phương thức tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm phong phú tài năng, trí tuệ để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Việc đầu tư đúng mức cho con người sẽ tạo tiền đề cho sự ổn dịnh và phát triển bền vững ở các nước đang phát triển. Và chỉ có bằng cách ấy, các quốc gia này mới có thể “đi tắt” ,“đón đầu” góp phần phát triển kinh tế - xã hội đạt đến trình độ hiện đại, hội nhập với các nước tiên tiến. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang thực hiện khá rộng rãi sự phân quyền, giao trách nhiệm từ cấp trung ương sang cấp cơ sở, mở rộng quyền lực của cấp cơ sở trong việc giải quyết các vấn đề và ra quyết định.
Trong bối cảnh đó “Quản lý dựa vào nhà trường” (School- Based Management – SBM) xuất hiện như một nhu cầu tất yếu nhằm thu hút và tạo điều kiện cho mọi người, trong đó có giáo viên và học sinh được tham gia một cách dân chủ vào việc quản lý và ra quyết định những vấn đề liên quan đến nhà trường. Theo xu hướng này, ở nhiều nước như : Mĩ, Anh, Australia, New Dilân, Canada,. SBM xuất hiện theo các cách gọi khác nhau nhưng có hai tính chất cơ bản - Tăng cường tự chủ cho nhà trường đổi với hoạt động tài chính, nhân sự và chương trình dạy học. - Trường học là đơn vị có quyền ra quyết định, giải quyết các vấn đề nảy sinh ngay tại chỗ với sự tham gia đông đảo của các thành viên trong trường và những người có liên quan [22].
Các tiêu chuẩn thực hiện phương thức “Quản lý dựa vào nhà trường”: - Nhà trường thực hiện các cải cách như đổi mới phương pháp giảng dạy, linh hoạt trong việc quản lý và thực hiện chương trình, có hệ thống chỉ dẫn quá trình dạy và học. 10 z - Được tự quản về tài chính: nhà trường có quyền được nhận, phân bổ, sử dụng tài chính theo yêu cầu của nhà trường, được phép chuyển tiền dư thừa sang năm sau. - Tự quản về nhân sự, chủ động trong việc điều hành nhân sự: hợp đồng, chấm dứt hợp đồng, sa thải, tăng lương, đề bạt cho giáo viên và cán bộ công nhân viên. - Xây dựng tương lai phát triển cho nhà trường bằng ý kiến của tập thể.
- Có chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục phù hợp với chuẩn chung của quốc tế và yêu cầu của địa phương. Chất lượng học sinh đạt chuẩn cao. - Phân quyền quản lý rõ ràng và được thay đổi cơ cấu tổ chức nhà trường để có nhiều người tham gia vào việc ra quyết định: giáo viên, nhân viên phục vụ, phụ huynh, các thành viên cộng đồng. Thường xuyên đầu tư nâng cao năng lực đội ngũ.
- Giáo viên và nhân viên nhà trường có nhiều sáng kiến cải tiến, chủ động trong công việc. Giáo viên và nhân viên của nhà trường có tinh thần trách nhiệm cao, hoàn thành mọi công việc được giao. Có phương thức và chủ động khen thưởng bằng vật chất và tinh thần cho các thành viên trong nhà trường. - Thoả mãn các nhu cầu về giáo dục.