Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trên thế giới vấn đề QLGD, quản lý nhà trường và quản lý ĐNGV được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong công trình nghiên cứu về những vấn đề quản lý của HT trường phổ thông V.Xukhomlinxki, Jaxapob đã khẳng định HT là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm cao nhất trong công tác quản lý nhà trường [19, tr.
Người HT phải biết tuyển chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bằng những biện pháp khác nhau bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định. 24-25] Giáo sư Stanislaw Kowalski khi nghiên cứu về xã hội học giáo dục và giáo dục học đã khẳng định thầy giáo như là khâu kết hợp nhà trường với môi trường và đề cập đến các loại quản lý, các phong cách quản lý, những vai trò xã hội và trình độ nghề nghiệp của thầy giáo.421-458] Trong “Quản trị hiệu quả trường học”, các tác giả K. Everard, Geofrey Morris, Ian Wilson (Vũ Văn Hùng, Bùi Thị Thanh Hiền, Đoàn Vân Anh sưu tầm và biên dịch) đã nghiên cứu sâu về quản lý con người như tuyển dụng, quản lý việc đánh giá và kết quả công tác. [10] Như vậy, vấn đề quản lý ĐNGV đã được thế giới chú ý và hết sức quan tâm trong QLGD.
Tại Việt Nam Tại Việt Nam từ thời xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai trò người thầy giáo “ không thầy đố mày làm nên”. 7 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa” [30, tr. Và Người chỉ ra rằng “giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”.
“Cán bộ và GV phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc, tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại”. 185] Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, và căn cứ vào thực tiễn tình hình GD&ĐT của đất nước, Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng IX, X, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục và mới đây nhất Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế QLGD, phát triển ĐNGV và CBQL là khâu then chốt”.30-31] và công văn 5516 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2011- 2012 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục cũng nhấn mạnh vấn đề này. Đây là tư duy mang tầm chiến lược, thể hiện quan điểm toàn diện, khách quan, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xuất phát từ những tư tưởng có định hướng đó, nhiều công trình nghiên cứu về QLGD, quản lý ĐNGV đã được nhiều tác giả nghiên cứu chuyên sâu. Năm 2004, trong quyển “Khoa học QLGD” tác giả Trần Kiểm đã nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống những vấn đề về quản lý, QLGD, các chức năng, nguyên tắc, phương pháp, công cụ QLGD, và trong quyển “Những vấn đề cơ 8 bản của khoa học QLGD” (2008), tác giả đã tiến hành phân tích cụ thể công tác lãnh đạo và quản lý nhà trường. [22], [23] Các tác giả Chu Mạnh Nguyên, Mai Quang Tâm, Dương Thúy Giang, Đỗ Thị Hòa nghiên cứu một cách hệ thống nghiệp vụ quản lý trường Trung học cơ sở và trường Tiểu học, đặc biệt trong đó đã chi tiết hóa công tác quản lý, bồi dưỡng, kiểm tra, đánh giá ĐNGV. [31],[ 38] Vị trí, tầm quan trọng của người GV, đặc điểm lao động của ĐNGV, những yêu cầu chung về xây dựng ĐNGV và nhiệm vụ của họ đều được thể hiện trong các giáo trình của các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, tác giả Nguyễn Văn Lê với giáo trình: “Người GV Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.
[15], [26] Trong quá trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục, tác giả Nguyễn Bá Cường – Trường đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ ra vấn đề trọng dụng hiền tài trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm. Với Ngô Thì Nhậm, vấn đề tuyển chọn và sử dụng nhà giáo rất được quan tâm, bởi theo ông, nhà giáo có ảnh hưởng to lớn đối với sự nghiệp phát triển của quốc gia.45-52] Gần đây các luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành QLGD ở trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh của các tác giả Nguyễn Văn Ngoạn, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Đình Ly, Mai Thị Quế cũng đã đề cập đến một số mặt như tuyển dụng, sử dụng, bồi dưỡng, khen thưởng trong công tác quản lý ĐNGV. QL ĐNGV đang là vấn đề cấp thiết và rất cần được tiếp tục quan tâm nghiên cứu. Vì thế đề tài: “Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THPT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” đã được trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt và cho phép tiến hành nghiên cứu.
Một số khái niệm tạo lập 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học Khái niệm quản lý Quản lý như một hoạt động thực tiễn ra đời rất sớm trong lịch sử. Ngay từ buổi bình minh của loài người, quản lý đã xuất hiện dù còn ở dạng sơ khai bởi lao động của con người, ngay từ buổi đầu đã là hoạt động mang tính loài, hay tính cộng đồng, và nhiều nghiên cứu cho thấy quản lý xuất hiện khi có sự hợp tác trong hoạt động của ít nhất hai người trở lên. Marx đã khẳng định : “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó”.5] Như vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là điều khiển, tổ chức các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất định được gọi là hoạt động quản lý.
Từ đó, có thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung. Khi xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất, thì trình độ tổ chức, điều hành tất yếu cũng được nâng lên theo những đòi hỏi ngày càng cao hơn. Khi lao động xã hội đạt tới một trình độ và quy mô phát triển nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một hoạt động đặc biệt, sẽ hình thành bộ phận lao động trực tiếp và bộ phận chuyên hoạt động quản lý, tạo thành các mối quan hệ trong quản lý. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quản lý đã trở thành một khoa học và ngày càng phát triển toàn diện.
Khái niệm quản lý là khái niệm rất chung, rất tổng quát và được định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau: 10 Theo Mary Paker Follett, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực xây dựng những luận thuyết về công tác quản lý của Mỹ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thì “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”. Theo thuyết quản lý khoa học của Taylor: “Quản lý là điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. 89] Dưới góc độ nghiên cứu của nhà sư phạm Nguyễn Ngọc Quang thì “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”.30] “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.15 ] Và trong một chừng mực nhất định, một số tư tưởng quản lý của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đặt ra những vấn đề của quản lý hiện đại, đặc biệt là việc đề xuất việc phát triển quản lý đến đỉnh cao của nó là tự quản lý. Vậy, quản lý là một dạng hoạt động đa cấp, đa dạng và hơn nữa lại được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý.
Mặc dù có những cách tiếp cận và hiểu khác nhau nhưng về bản chất, quản lý là quá trình làm việc với hoặc thông qua những người khác nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức một cách hiệu quả nhất. Ở mỗi cấp, mỗi dạng, quản lý đều có những đặc điểm, nhiệm vụ và phương thức đặc thù phù hợp với cấp, dạng đó. Nhưng nhìn chung ở cấp nào, dạng nào; hoạt động quản lý cũng đều thực thi các chức năng với những công cụ đặc trưng và phương pháp phù hợp. 11 Khái niệm quản lý giáo dục Cùng với sự đi lên của tổ chức xã hội, khoa học ngày càng phát triển và có ý nghĩa quyết định trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Từ các lĩnh vực kinh tế, tới các lĩnh vực văn hóa - xã hội đều khai thác hiệu quả các thành tựu của khoa học quản lý. Ứng với mỗi lĩnh vực, công tác quản lý đều đã phát triển thành một khoa học quản lý với những đặc thù riêng. Khoa học QLGD đã hình thành và phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.