phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng việc phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh Chƣơng 3: Một số biện pháp phối hợp giữa nhà trƣờng, gia đình và xã hội 6 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về giáo dục đạo đức học sinh Đạo đức là một hình thái xã hội xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài ngƣời. Nó đƣợc hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao.
Vì vậy, đạo đức luôn đƣợc mọi giai cấp, mọi xã hội, mọi thời đại quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những quan điểm đạo đức Mác – Lê nin xây dựng chuẩn mực đạo đức mới - đạo đức cách mạng. Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số nhà giáo dục nghiên cứu sâu về đạo đức và giáo dục đạo đức học sinh: - GS.TS Phạm Minh Hạc, nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu Việt Nam đã nêu các định hƣớng giá trị đạo đức con ngƣời Việt Nam và 6 giải pháp cơ bản giáo dục đạo đức con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH đất nƣớc. - Đặng Vũ Hoạt – Tác giả cuốn “Đổi mới công tác GVCN với việc GD đạo đức học sinh”.TS Phạm Khắc Chƣơng với các cuốn: “Đạo đức học”; “Rèn đạo đức và ý thức công dân”; “J.Cômenxki – Ông tổ của nền sƣ phạm cận đại”… - Phan Lê Huy với đề tài “Các giá trị truyền thống và con ngƣời Việt Nam hiện nay”.
Nghiên cứu về việc phối hợp giữa Nhà trường-Gia đình-Xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh Các nghiên cứu về việc phối hợp giữa Nhà trƣờng – Gia đình – Xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh đƣợc nhiều ngƣời tiến hành, gần đây có nhiều luận văn thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục nhƣ: - “Một số biện pháp quản lý phối hợp các lực lƣợng giáo dục nhằm phòng chống các tệ nạn xã hội trong các trƣờng chuyên nghiệp ở thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” của thạc sỹ Nguyễn Tiến Dũng (năm 2005). 7 z - “Biện pháp phối hợp công tác giữa bí thƣ Đoàn TNCS HCM và Hiệu trƣởng trƣờng THPT tỉnh Trà Vinh nhằm tăng cƣờng kết quả giáo dục đạo đức cho học sinh: của thạc sỹ Nguyễn Thành Tâm (năm 2006). - “Biện pháp tổ chức phối hợp các lực lƣợng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của thạc sỹ Vƣơng Quốc Tuấn (năm 2006). Nhìn chung các đề tài nghiên cứu đều đi sâu vào nghiên cứu tổ chức phối hợp các lực lƣợng ở tỉnh Bắc Ninh, Trà Vinh, thành phố Hồ Chí Minh, chƣa có đề tài nào nghiên cứu ở một trƣờng THPT của một huyện ven biển nhƣ huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định.
Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này với hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh ở trƣờng THPT Giao Thuỷ, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Một số khái niệm cơ bản 1. Đạo đức và giáo dục đạo đức 1.Đạo đức - Trong mối quan hệ vô cùng phong phú và phức tạp với thế giới xung quanh con ngƣời phải luôn giao tiếp, cƣ xử. Nếu thái độ, hành vi của họ phù hợp với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng, phù hợp với hạnh phúc và tiến bộ chung của xã hội thì con ngƣời đó đƣợc đánh giá là có đạo đức.
Ngƣợc lại hành vi, thái độ của họ không phù hợp, gây tổn hại tới lợi ích ngƣời khác thì bị xã hội chê trách, lên án, thì ngƣời đó bị coi là thiếu đạo đức. Vậy đạo đức là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, tuy nhiên có thể hiểu khái niệm này dƣới hai góc độ: - Góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt đƣợc phản ánh dƣới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh (hoặc chi phối) hành vi của con ngƣời trong các mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau và với chính bản thân mình. - Góc độ cá nhân: 8 z Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con ngƣời phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với ngƣời khác và với chính bản thân mình. Theo quan điểm của học thuyết Mac-Lê nin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cũng thay đổi theo và nhƣ vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”. Chuẩn mực đạo đức phản ánh của một thế hệ phản ánh thế giới tinh thần, trình độ văn minh của thế hệ đó. Tiêu chuẩn đạo đức chính là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất, giá trị nhất mà con ngƣời đã tích luỹ đƣợc trong quá trình phát triển nền văn hoá nhân loại.
Chuẩn mực đạo đức giúp con ngƣời điều chỉnh những mối quan hệ hiện hữu giữa con ngƣời với thế giới xung quanh, những mối quan hệ đó phụ thuộc vào đặc điểm của chế độ xã hội nên đạo đức luôn mang tính giai cấp. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó quan hệ mật thiết với các hình thái ý thức xã hội khác nhƣ chính trị, hệ thống quan điểm, tƣ tƣởng, thể hiện lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định. Đạo đức cũng gắn bó với pháp luật, nó cùng có mục đích, nhiệm vụ nhằm điều chỉnh đánh giá các mối quan hệ giữa con ngƣời với thế giới xung quanh. Đạo đức và pháp luật đều chống lại cái ác, làm điều thiện, xây dựng cuộc sống bình yên, tƣơi đẹp.
Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dƣới dạng đối lập sau: - Thiện và ác - Có lƣơng tâm và bất lƣơng 9 z - Có trách nhiệm và tắc trách - Hiếu nghĩa và bất hiếu, bất nghĩa - Vinh và nhục - Hạnh phúc và bất hạnh Các giá trị đạo đức kế thừa và phát triển các đức tính tốt đẹp: - Tính ngay thẳng và lòng trung thực - Tính nguyên tắc và sự kiên tâm - Tính khiêm tốn và sự lễ độ - Tính hào hiệp và sự tế nhị - Tính tiết kiệm và sự giản dị - Lòng dũng cảm và phẩm chất anh hùng. Khái niệm đạo đức XHCN có thể tinh lƣợc trong những nguyên tắc, yêu cầu chuẩn mực nhƣ sau: - Yêu nƣớc, yêu CNXH - Yêu lao động và có thái độ lao động XHCN - Có tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng và tính đoàn kết kỷ luật - Tinh thần nhân đạo XHCN - Có tinh thần quốc tế XHCN trong thời đại mới - Nếp sống văn minh 1.Giáo dục đạo đức - Giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng là một bộ phận cực kỳ quan trọng của quá trình sƣ phạm. Giáo dục đạo đức là giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục tình cảm đạo đức, giáo dục thói quen đạo đức từ đó tạo ra nhịp cầu gắn kết con ngƣời với cuộc sống, với xã hội. - Qúa trình giáo dục đạo đức là một bộ phậnấu thành của quá trình giáo dục trong nhà trƣờng.
Qúa trình giáo dục trong nhà trƣờng đƣợc chia làm nhiều quá trình bộ phận: giáo dục đạo đức (đức dục); giáo dục trí tuệ (trí dục); giáo dục thể chất; giáo dục thẩm mỹ (mỹ dục); giáo dục lao động kỹ thuật 10 z tổng hợp; hƣớng nghiệp. Trong đó, giáo dục đạo đức đƣợc xem là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng vững chắc cho các mặt giáo dục khác. - Qúa trình giáo dục đạo đức có các thành tố, cấu trúc nhất định và cùng vận động trong hệ thống. Các thành tố cơ bản đó là hoạt động của nhà giáo dục và ngƣời đƣợc giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phƣơng pháp và phƣơng tiện giáo dục, kết quả giáo dục…Nhà giáo dục là chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu sau: + Đƣa học sinh vào hệ thống các hoạt động và quan hệ thực tiễn, quan hệ xã hội.
+ Ngăn chặn những ảnh hƣởng tiêu cực, định hƣớng lựa chọn các ảnh hƣởng tích cực trong quá trình lĩnh hội các giá trị đạo đức của học sinh. + Tổ chức các hoạt động cho học sinh để chuyển những yêu cầu của xã hội thành phẩm chất đạo đức của học sinh. - Mục tiêu giáo dục đạo đức trong nhà trƣờng là giúp cho học sinh nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi ngƣời vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và phồn vinh của đất nƣớc. Phạm Minh Hạc thì những chuẩn mực đạo đức của ngƣời Việt Nam thời kỳ CNH – HĐH có thể xác định thành 5 nhóm phản ánh các mối quan hệ chính mà con ngƣời phải giải quyết đó là nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tƣ tƣởng chính trị; nhóm chuẩn mực đạo đức hƣớng vào sự hoàn thiện bản thân; nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi ngƣời; nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc; nhóm chuẩn mực đạo đức liên quan đến xây dựng môi trƣờng sống.
Con đƣờng giáo dục đạo đức, phƣơng pháp giáo dục đạo đức còn phải là: củng cố, tăng cƣờng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trƣờng trong việc giáo dục đạo đức cho mọi ngƣời trong đó có học sinh THPT. 11 z Giáo dục đạo đức học sinh THPT còn phải bằng con đƣờng tự rèn luyện, tự giáo dục của bản thân ngƣời học sinh: “Nhà trƣờng cần phải tổ chức quá trình giáo dục, đào tạo theo hƣớng đẩy mạnh quá trình tự đào tạo của thế hệ trẻ, coi trọng vai trò chủ thể của thế hệ trẻ trong quá trình giáo dục” 3, tr73-74. Tóm lại, giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trƣờng là một bộ phận cực kỳ quan trọng của quá trình giáo dục.