Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố Hà Nội" được tác giả Phạm Thị Vui thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2018, thuộc chuyên ngành Lí luận và Lịch sử giáo dục (Mã số: 9.02 / 9140102), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Khắc Chương và PGS. Trịnh Thúy Giang.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, giữ vai trò nền tảng trong sự phát triển nhân cách của người học ở mọi cấp học. Trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự biến đổi hệ giá trị xã hội đang tác động phức tạp đến thế hệ trẻ; một bộ phận thanh thiếu niên xuất hiện biểu hiện suy thoái đạo đức, phai nhạt lý tưởng và có lối sống thực dụng. Thực trạng này đã được nêu rõ trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII.

Tại Việt Nam, các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN - GDTX) thực hiện chức năng giáo dục thay thế và tiếp nối cho hệ thống chính quy, tiếp nhận những học sinh có học lực trung bình hoặc yếu kém từ bậc Trung học cơ sở, có hoàn cảnh kinh tế - gia đình khó khăn, chịu nhiều tác động tiêu cực từ môi trường xã hội và thường mang tâm lý tự ti khi theo học hệ bổ túc văn hóa. Tuy nhiên, thực tế tại các trung tâm này cho thấy công tác quản lý và chuyên môn chủ yếu tập trung vào việc đào tạo nghề và dạy chữ, trong khi nhiệm vụ giáo dục đạo đức (GDĐĐ) chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Các công trình khoa học trước đây phần lớn tập trung vào học sinh phổ thông hoặc sinh viên đại học, để lại khoảng trống nghiên cứu về lý luận và biện pháp GDĐĐ chuyên biệt cho đối tượng học sinh THPT trong môi trường GDNN - GDTX.

Mục tiêu và giả thuyết nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất hệ thống các biện pháp GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người học và bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
  • Giả thuyết khoa học: GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX là nhiệm vụ quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Nếu phân tích làm rõ bản chất của GDĐĐ trong bối cảnh hiện nay, phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm, gia đình và xã hội, từ đó xây dựng hệ thống biện pháp đồng bộ, khả thi, đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đến việc phát huy tính tích cực của các chủ thể, thì sẽ nâng cao chất lượng GDĐĐ và chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tại các cơ sở này.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu lý luận về GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  3. Xây dựng hệ thống biện pháp GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDĐĐ cho học sinh ở các Trung tâm GDNN - GDTX.
  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp GDĐĐ cho học sinh ở các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Địa bàn khảo sát: 03 Trung tâm GDNN - GDTX thuộc quận Cầu Giấy, quận Tây Hồ và huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
    • Mẫu khảo sát: 550 khách thể, bao gồm 75 cán bộ quản lý (CBQL) và giáo viên (GV), 60 phụ huynh học sinh (PHHS) và 415 học sinh lớp 10 bổ túc THPT.
    • Địa bàn thực nghiệm: Trung tâm GDNN - GDTX huyện Gia Lâm và Trung tâm GDNN - GDTX quận Cầu Giấy.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

Tác giả đã điểm luận các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đạo đức và giáo dục đạo đức theo các trục nội dung:

  • Nghiên cứu kinh điển và quốc tế: Luận án dẫn chiếu tư tưởng của J. Cômenxki (1592 - 1670) về các hình thức GDĐĐ qua dạy học, qua thực tiễn hoạt động, qua sự gương mẫu, kỷ luật; quan điểm của G. Bandzeladze trên lập trường duy vật biện chứng xác định đạo đức là hệ thống chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự giác giữa con người với nhau và với xã hội.
  • Giai đoạn thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX tại Việt Nam: Các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã đặt nền móng nghiên cứu: Nguyễn Đức Minh làm rõ cơ sở tâm lý - giáo dục học; Hà Thế Ngữ nghiên cứu tổ chức GDĐĐ qua giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn; Phạm Minh Hạc khảo sát hành vi đạo đức trong cấu trúc nhân cách; Phạm Tất Dong nghiên cứu tâm lý hoạt động giáo dục lao động và hướng nghiệp gắn với đạo đức nghề nghiệp.
  • Giai đoạn đổi mới từ sau năm 1986 đến nay:
    • Đề tài cấp Nhà nước NN7 do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm về cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên;
    • Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX 07 nghiên cứu về con người Việt Nam;
    • Các công trình chuyên khảo: Hoàng Chí Bảo (1998) nghiên cứu biến đổi quan hệ cá nhân - xã hội trong kinh tế thị trường; Trần Sỹ Phán (2000) khẳng định GDĐĐ là nội dung cơ bản để phát triển nhân cách; Lê Thị Thủy làm rõ vai trò đạo đức với nhân cách người Việt Nam; Nguyễn Văn Phúc (2004) nghiên cứu sự biến đổi chuẩn mực giá trị đạo đức mới; Hoàng Anh phân tích giáo dục lý luận Mác - Lênin với nhân cách sinh viên; Phan Văn Bính xác định nội dung GDĐĐ cho sinh viên; Lê Thị Lan và Lê Thị Hoài Thanh giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa giá trị đạo đức truyền thống và hiện đại;
    • Nguyễn Tùng Lâm (2003) nghiên cứu phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của học sinh THPT Hà Nội, nhấn mạnh vai trò của gia đình, nhà trường và lực lượng an ninh địa phương.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình tập trung vào học sinh phổ thông công lập hoặc sinh viên đại học, cao đẳng. Tại hệ thống GDNN - GDTX, tỷ lệ học sinh yếu kém cả về văn hóa và rèn luyện đạo đức chiếm tỷ lệ đáng kể (khoảng 2/3 số lượng người học), nhưng chưa có nghiên cứu hệ thống nào xây dựng khung chuẩn mực đạo đức gắn liền với kỹ năng sống đặc thù và thiết lập quy trình can thiệp sư phạm đồng bộ cho học sinh THPT học tập tại các trung tâm này. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về lý luận giáo dục chuyên biệt và thực nghiệm các giải pháp can thiệp cho khối học sinh THPT thuộc các Trung tâm GDNN - GDTX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm đạo đức: Luận án tổng hợp định nghĩa từ Aristot, C. Mác, Bandzeladze, Phạm Minh Hạc, Trần Hậu Kiểm, Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng, Phan Thị Hồng Vinh và các cộng sự. Đạo đức được định nghĩa là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình trong các quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội phù hợp với lợi ích con người và sự tiến bộ xã hội.
  • Khái niệm giáo dục đạo đức: Tiếp thu quan điểm của Phan Thanh Long, Phạm Viết Vượng, Phan Thị Hồng Vinh, tác giả định nghĩa GDĐĐ là quá trình giáo dục có mục đích, có kế hoạch, được thực hiện thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin và thói quen hành vi đạo đức phù hợp chuẩn mực xã hội.
  • Năm quan điểm tiếp cận nghiên cứu:
    1. Tiếp cận dựa vào hợp tác: Xem GDĐĐ là sự tương tác đa chiều giữa các lực lượng: trung tâm, gia đình, xã hội và bản thân học sinh.
    2. Tiếp cận dựa vào trải nghiệm: Tổ chức cho người học tham gia hoạt động thực tiễn để bộc lộ, rèn luyện và tự điều chỉnh hành vi.
    3. Tiếp cận giá trị: Kết hợp hài hòa giữa hệ giá trị truyền thống dân tộc (yêu nước, nhân ái, cần cù) và giá trị hiện đại.
    4. Tiếp cận kỹ năng sống: Gắn chuẩn mực đạo đức với các năng lực ứng phó tình huống, giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát cảm xúc.
    5. Tiếp cận tích hợp: Lồng ghép GDĐĐ vào quá trình dạy văn hóa (đặc biệt môn GDCD), đào tạo nghề và hoạt động đoàn thể.

Hệ thống nguyên tắc giáo dục đạo đức đặc thù

Tác giả xác lập 9 nguyên tắc chỉ đạo quá trình GDĐĐ tại Trung tâm GDNN - GDTX:

  1. Đảm bảo tính mục đích trong các hoạt động giáo dục.
  2. Giáo dục gắn với đời sống xã hội và lao động.
  3. Đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục ý thức và tạo lập thói quen hành vi.
  4. Tôn trọng và yêu cầu hợp lý đối với học sinh.
  5. Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tổ chức sư phạm của nhà giáo dục và tính tích cực, độc lập, sáng tạo tự giáo dục của học sinh.
  6. Đảm bảo tính hệ thống, kế tiếp, liên tục trong công tác giáo dục.
  7. Đảm bảo thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng của học sinh.
  8. Đảm bảo sự thống nhất giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
  9. Đảm bảo gắn kết việc giáo dục các chuẩn mực đạo đức với giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu lý luận với nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn và thống kê toán học:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu trong và ngoài nước.
  • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ môn Giáo dục công dân và theo dõi các hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trung tâm.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng phiếu câu hỏi chuẩn bị sẵn kèm ghi âm, ghi hình đối với CBQL, GV, PHHS và học sinh.
  • Phương pháp điều tra giáo dục bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu điều tra kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở gửi tới 550 khách thể.
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Đánh giá kế hoạch giáo dục của giáo viên, sổ ghi chép, vở bài tập, bài kiểm tra của học sinh.
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phân tích bài học GDĐĐ từ đội ngũ giáo viên chủ nhiệm giỏi tại Hà Nội.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Khảo sát chuyên sâu một số học sinh có hành vi cá biệt về đạo đức.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng, sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu; phân tích phương sai ANOVA, tính điểm trung bình (ĐTB), phương sai và độ lệch chuẩn để đánh giá hiệu quả tác động trước và sau thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài, xác định vị trí pháp lý, chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDNN - GDTX theo quy định của pháp luật (đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND quận/huyện, chịu sự quản lý chuyên môn của Sở GD&ĐT và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội).

Tác giả phân tích các đặc điểm tâm sinh lý và xã hội đặc thù của học sinh THPT tại các trung tâm này:

  • Sự đa dạng về độ tuổi dẫn đến sự khác biệt về thể chất và nhận thức; học sinh lớn tuổi thường có tâm thế người lớn nhưng ứng xử chưa chuẩn mực, trong khi học sinh nhỏ tuổi dễ nảy sinh tâm lý coi thường bạn học lớn tuổi hơn, gây mâu thuẫn nội bộ.
  • Nhận thức phát triển không đồng đều; đa số các em không đủ điểm đỗ vào trường THPT công lập nên nảy sinh tâm lý tự ti, mặc cảm coi lớp học tại trung tâm là "lớp vét", thiếu động lực học tập văn hóa nhưng hào hứng với hoạt động ngoại khóa.
  • Mối quan hệ xã hội phức tạp, năng lực kiềm chế hành vi còn hạn chế.
  • Nhiều học sinh có hoàn cảnh gia đình đặc biệt (khuyết bố hoặc mẹ, bố mẹ ly hôn, kinh tế khó khăn, bố mẹ đang chấp hành án phạt tù, hoặc diện lao động ngoại tỉnh nhập cư), khiến các em dễ nhạy cảm, thu mình hoặc dễ nổi nóng, phản kháng tiêu cực.

Về hệ thống chuẩn mực đạo đức, tác giả cấu trúc thành hai nhóm:

  1. Năm phẩm chất cốt lõi theo Chương trình giáo dục phổ thông năm 2017: Yêu nước, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực và Trách nhiệm.
  2. Bốn chuẩn mực mang tính đặc thù gắn với kỹ năng sống: Biết quản lý cảm xúc bản thân; Biết giải quyết mâu thuẫn (không sử dụng bạo lực); Thích nghi với sự thay đổi của môi trường học tập và cuộc sống; Biết lắng nghe và chia sẻ.

Chương này cũng phân tích chi tiết các phương pháp GDĐĐ phù hợp tại trung tâm: đàm thoại, giảng giải, nêu gương (gương chính diện và phản diện), giao việc, tập luyện, rèn luyện, khen thưởng, trách phạt và thi đua.

Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên thành phố Hà Nội

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại 3 trung tâm: Cầu Giấy, Tây Hồ và Gia Lâm với tổng số 550 người tham gia.

Thành phần khách thể khảo sát Số lượng (Người) Tỷ lệ (%)
Cán bộ quản lý và Giáo viên 75 13,64
Phụ huynh học sinh 60 10,91
Học sinh lớp 10 bổ túc THPT 415 75,45
Tổng cộng 550 100,0

Các kết quả khảo sát thực trạng cho thấy:

  • Về nhận thức chuẩn mực: Đa số CBQL, GV và PHHS đều nhận thức được tầm quan trọng của các chuẩn mực đạo đức, nhưng mức độ ưu tiên chưa đồng đều giữa các nhóm đối tượng. PHHS thường chú trọng đến tính chăm chỉ và trách nhiệm gia đình, trong khi giáo viên quan tâm nhiều đến tính trung thực và kỷ luật.
  • Về thực trạng hành vi đạo đức của học sinh: Tồn tại sự phân hóa rõ rệt. Bên cạnh các hành vi tích cực (giúp đỡ bạn bè, tham gia hoạt động xã hội), tỷ lệ học sinh có hành vi chưa tích cực còn ở mức cao. Các hiện tượng phổ biến gồm: vi phạm nội quy, đi học muộn, trốn tiết, nói tục chửi bậy, thiếu trung thực trong kiểm tra, xung đột xô xát và sử dụng điện thoại trong giờ học. Nguyên nhân tiêu cực xuất phát từ sự thiếu quan tâm của gia đình, áp lực tâm lý học lực kém và ảnh hưởng tiêu cực từ mạng xã hội, bạn bè ngoài trung tâm.
  • Về thực trạng công tác giáo dục đạo đức:
    • Mục tiêu và nội dung: Việc xác định mục tiêu còn mang tính hình thức, dàn trải, chưa bám sát đặc điểm tâm lý đối tượng học sinh bổ túc; nội dung chưa tích hợp sâu kỹ năng sống.
    • Phương pháp và hình thức: Phương pháp giảng giải, thuyết trình một chiều vẫn chiếm ưu thế; các phương pháp rèn luyện qua tình huống thực tiễn, hoạt động trải nghiệm chưa được đầu tư đúng mức.
    • Lực lượng phối hợp: Sự kết hợp giữa trung tâm, gia đình và các tổ chức xã hội tại địa phương (đặc biệt là công an phường, đoàn thể xã hội) còn mang tính thời điểm, thiếu cơ chế thông tin thường xuyên.

Chương 3: Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn thành phố Hà Nội và thực nghiệm sư phạm

Chương 3 đề xuất hệ thống 7 biện pháp sư phạm đồng bộ dựa trên các nguyên tắc khoa học:

  1. Biện pháp 1: Tổ chức bồi dưỡng nhận thức cho các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX. Nâng cao trách nhiệm sư phạm và kỹ năng ứng xử tâm lý cho cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn.
  2. Biện pháp 2: Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học các môn học nhiều tiềm năng trong GDĐĐ cho học sinh, đặc biệt là môn Giáo dục công dân. Áp dụng phương pháp giải quyết vấn đề, đóng vai, phân tích tình huống thực tế đời sống.
  3. Biện pháp 3: Đa dạng hóa các loại hình hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh theo hướng trải nghiệm. Tổ chức các hoạt động tình nguyện, tham quan di tích lịch sử, bảo vệ môi trường, văn nghệ, thể dục thể thao.
  4. Biện pháp 4: Sử dụng hiệu quả phương pháp giao việc, luyện tập và rèn luyện trong tổ chức các hoạt động GDĐĐ. Đưa học sinh vào các tình huống thực tiễn, phân công trách nhiệm cụ thể để tạo lập thói quen hành vi đạo đức tích cực.
  5. Biện pháp 5: Phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài Trung tâm tổ chức các hoạt động GDĐĐ cho học sinh. Thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa trung tâm với gia đình, chính quyền địa phương, công an xã/phường và các tổ chức đoàn thể.
  6. Biện pháp 6: Phát huy tính tích cực trong quá trình tự giáo dục của học sinh THPT tại Trung tâm GDNN - GDTX. Hướng dẫn học sinh tự xây dựng kế hoạch rèn luyện cá nhân, rèn luyện kỹ năng tự đánh giá, kiềm chế cảm xúc tiêu cực và tự điều chỉnh hành vi.
  7. Biện pháp 7: Thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả GDĐĐ cho học sinh một cách toàn diện, thường xuyên. Đổi mới quy trình đánh giá hạnh kiểm, kết hợp giữa nhận xét của giáo viên, ý kiến tập thể lớp, đánh giá của phụ huynh và sự tự đánh giá của bản thân người học.

Quá trình và kết quả thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Gia Lâm và Trung tâm GDNN - GDTX quận Cầu Giấy trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC). Tác giả tiến hành đo đạc các chỉ số về ý thức, thái độ, tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh trước và sau khi can thiệp các biện pháp.

Kết quả xử lý bằng phần mềm SPSS và kiểm định phân tích phương sai ANOVA cho thấy: Trước thực nghiệm, mức độ chênh lệch về điểm trung bình các tiêu chí đạo đức giữa nhóm TN và ĐC là không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$). Sau thực nghiệm, nhóm TN có sự tăng trưởng điểm số trung bình rõ rệt về nhận thức chuẩn mực, khả năng kiểm soát cảm xúc và giảm thiểu các hành vi vi phạm kỷ luật so với nhóm ĐC, với mức sai khác có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$). Điều này xác nhận tính hiệu quả và tính khả thi của hệ thống biện pháp đã đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về GDĐĐ đối với học sinh THPT trong môi trường GDNN - GDTX, một mô hình giáo dục không chính quy có tính đặc thù cao về đối tượng người học.
  • Xác định và bổ sung hệ thống chuẩn mực đạo đức dành riêng cho học sinh trung tâm: tích hợp 5 phẩm chất nhân cách cốt lõi theo chương trình phổ thông với 4 chuẩn mực kỹ năng sống thiết yếu (quản lý cảm xúc, giải quyết mâu thuẫn không dùng bạo lực, thích nghi hoàn cảnh, lắng nghe và chia sẻ).
  • Xác lập 9 nguyên tắc sư phạm chỉ đạo quá trình GDĐĐ trong điều kiện giáo dục thường xuyên tại đô thị lớn.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Phản ánh trung thực bức tranh thực trạng về đạo đức học sinh và thực trạng công tác GDĐĐ tại các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua hệ thống dữ liệu khảo sát từ 550 khách thể.
  • Xây dựng hệ thống 7 biện pháp sư phạm có mối quan hệ biện chứng, có quy trình thực hiện cụ thể, đã được kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả qua thực nghiệm sư phạm tại huyện Gia Lâm và quận Cầu Giấy.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý và giáo viên các trung tâm trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Giáo dục công dân, thiết kế hoạt động trải nghiệm và xây dựng quy chế phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội: Cần tăng cường biên soạn tài liệu hướng dẫn kỹ năng sống, tập huấn chuyên môn GDĐĐ cho đội ngũ giáo viên các Trung tâm GDNN - GDTX; hoàn thiện quy định đánh giá hạnh kiểm người học hệ GDTX theo hướng toàn diện.
  • Đối với Ban Giám đốc các Trung tâm GDNN - GDTX: Cần cân đối hợp lý thời lượng giữa đào tạo nghề và giáo dục nhân cách; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ hoạt động trải nghiệm, văn hóa, thể thao cho học sinh; phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an địa phương trong bảo đảm an ninh trật tự trường học.
  • Đối với giáo viên và cán bộ Đoàn: Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD; phát huy vai trò cố vấn, gần gũi, xóa bỏ định kiến đối với học sinh cá biệt; tổ chức các câu lạc bộ sở thích và tạo môi trường giao việc để học sinh tự rèn luyện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi khảo sát: Do điều kiện nghiên cứu, luận án chỉ tiến hành khảo sát thực trạng tại 03 Trung tâm GDNN - GDTX (Cầu Giấy, Tây Hồ, Gia Lâm) với 550 khách thể, chưa bao quát được toàn bộ 30 quận, huyện, thị xã của thành phố Hà Nội.
  • Đối tượng khảo sát: Mẫu học sinh khảo sát chỉ tập trung vào khối lớp 10 hệ bổ túc THPT, chưa theo dõi chuỗi dữ liệu kéo dài qua các khối lớp 11 và 12.
  • Khối lượng can thiệp thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm chỉ tập trung can thiệp một số biện pháp trọng tâm trong thời gian nhất định tại 2 trung tâm, chưa triển khai đại trà tất cả các biện pháp đồng thời trên quy mô rộng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng sang các địa bàn ngoại thành xa trung tâm hoặc so sánh đối sánh giữa các tỉnh/thành phố khác trên cả nước.
  • Thiết kế nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) theo dõi sự biến đổi hành vi đạo đức của học sinh từ khi nhập học lớp 10 cho đến khi tốt nghiệp và tham gia thị trường lao động.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa Trung tâm GDNN - GDTX với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp và tác phong lao động công nghiệp cho học sinh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các đối tượng trong ngành giáo dục:

  • Cán bộ quản lý tại các Trung tâm GDNN - GDTX: Vận dụng khung 9 nguyên tắc và 7 biện pháp để xây dựng kế hoạch năm học, đổi mới công tác quản lý học sinh và chỉ đạo hoạt động ngoài giờ lên lớp.
  • Giáo viên bộ môn GDCD và giáo viên chủ nhiệm: Tham khảo quy trình tổ chức dạy học tích cực, phương pháp đóng vai, giải quyết tình huống và kỹ năng tiếp cận, cảm hóa học sinh có hoàn cảnh đặc biệt hoặc hành vi cá biệt.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Giáo dục học: Tham khảo cách thức thiết kế công cụ nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát định tính và xử lý số liệu định lượng (SPSS, ANOVA) trong nghiên cứu khoa học giáo dục thực nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt cơ bản về đặc điểm của học sinh THPT tại các Trung tâm GDNN - GDTX so với học sinh các trường phổ thông công lập là gì?

Theo luận án, học sinh tại các trung tâm có độ tuổi đa dạng hơn, nhận thức không đồng đều, đa số không đỗ vào trường công lập nên mang tâm lý tự ti xem mình học "lớp vét". Nhiều em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt (bố mẹ ly hôn, gia đình kinh tế khó khăn, bố mẹ đi cải tạo hoặc là dân nhập cư ngoại tỉnh), các mối quan hệ xã hội phức tạp, dễ bị lôi kéo nhưng lại có nhu cầu khẳng định bản thân cao và thích tham gia các hoạt động ngoại khóa thực tế.

2. Luận án xác định những chuẩn mực đạo đức bổ sung nào dành riêng cho học sinh Trung tâm GDNN - GDTX bên cạnh 5 chuẩn mực chung?

Bên cạnh 5 phẩm chất cốt lõi (Yêu nước, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm), tác giả bổ sung 4 chuẩn mực đạo đức gắn với kỹ năng sống:

  • Biết quản lý cảm xúc bản thân;
  • Biết giải quyết mâu thuẫn (bình tĩnh, không dùng bạo lực);
  • Thích nghi được với sự thay đổi của môi trường học tập và cuộc sống;
  • Biết lắng nghe và chia sẻ.

3. Phương pháp định lượng nào được sử dụng để xử lý số liệu và chứng minh hiệu quả thực nghiệm trong luận án?

Luận án sử dụng phần mềm SPSS để tính toán các tham số thống kê mô tả gồm: điểm trung bình (ĐTB), phương sai, độ lệch chuẩn. Để đánh giá hiệu quả tác động của các biện pháp, tác giả sử dụng phân tích phương sai ANOVA để kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau can thiệp sư phạm.

4. Hệ thống biện pháp giáo dục đạo đức của luận án gồm những nội dung trọng tâm nào?

Tác giả đề xuất 7 biện pháp: (1) Bồi dưỡng nhận thức cho các lực lượng giáo dục; (2) Sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong môn GDCD; (3) Đa dạng hóa hoạt động trải nghiệm; (4) Vận dụng hiệu quả phương pháp giao việc, tập luyện và rèn luyện; (5) Phối hợp với các lực lượng ngoài trung tâm; (6) Phát huy tính tích cực tự giáo dục của học sinh; (7) Kiểm tra, đánh giá toàn diện, thường xuyên.

5. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại đâu và mang lại kết quả gì?

Thực nghiệm được triển khai tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Gia Lâm và quận Cầu Giấy. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy sau thực nghiệm, học sinh ở nhóm thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về nhận thức, thái độ, kiểm soát hành vi và giảm thiểu vi phạm kỷ luật so với nhóm đối chứng với mức ý nghĩa $p < 0,05$, khẳng định tính khả thi của các biện pháp sư phạm đã đề xuất.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Vui đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bằng việc phối hợp giữa phân tích lý luận giáo dục học, khảo sát thực trạng trên 550 khách thể và kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm có xử lý thống kê ANOVA, công trình đã xác lập được hệ thống chuẩn mực đạo đức tích hợp kỹ năng sống cùng 7 biện pháp giáo dục đồng bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác giáo dục toàn diện tại các cơ sở giáo dục thường xuyên hiện nay.