Chương 1: Lý luận về GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX. Chương 2: Thực trạng GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN – GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội Chương 3: Biện pháp GDĐĐ cho học sinh THPT ở các Trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn thành phố Hà Nội và thực nghiệm sư phạm. 9 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ GI O ỤC ĐẠO Đ C CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở C C TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Những nghiên cứu về đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông Nghiên cứu về GDĐĐ tạo nên cơ sở cho quá trình giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh THPT từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm. Nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc - J. Cômenxki (1592 - 1670) trong suốt quá trình hoạt động nghiên cứu của mình đã để lại cho nhân loại hơn 100 tác phẩm giáo dục, trong đó có những tác phẩm kiệt xuất đóng góp vào kho tàng giáo dục những kinh nghiệm quý báu. Cômenxki, nội dung GDĐĐ cần tập trung vào hai điểm: Giáo dục lòng tin vào thượng đế và chúa trời; nhận thức vào bản thân mình và nhận thức được thế giới xung quanh, biết xây dựng đời sống thực tế, tham gia tích cực vào cuộc sống [46;tr 92].
Cômenxki, các hình thức GDĐĐ bao gồm: GDĐĐ thông qua dạy học; thông qua thực tiễn đời sống, hoạt động của con người; bằng sự gương mẫu; bằng qui tắc sống, bằng kỉ luật [46;tr 93]. Trong những năm 60, 70 của thế kỉ XX có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ của nhiều tác giả trong nước dưới góc độ Tâm lý học, Giáo dục học đã được công bố. Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và Trường Đại học sư phạm I Hà Nội đã có những đóng góp rất quan trọng vào lĩnh vực nghiên cứu này với các tác giả Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác. Để đi đến các quan niệm và giải pháp về GDĐĐ, các tác giả đã lựa chọn cho mình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra sự đa dạng, phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Tác giả Nguyễn Đức Minh nghiên cứu và trình bày cơ sở tâm lý - giáo dục học của GDĐĐ. Tác giả Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học, nhất là các môn khoa học xã hội nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh. 10 Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt động, nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện quá trình GDĐĐ trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục. Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết hoạt động này với GDĐĐ nhằm đạt mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ.
Trong các công trình nghiên cứu về GDĐĐ từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), cần kể đến một số đề tài như công trình mang mã số NN7 "Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân" do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài NN7 đã có nhiều nội dung mới về GDĐĐ, chính trị và tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu của thập kỷ 90. Trong chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX 07. "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội", có một số đề tài nghiên cứu các vến đề có liên quan đến đạo đức và nhân cách con người Việt Nam nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng.
Một số cuốn sách của một số giáo sư, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề đạo đức và GDĐĐ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay. Tác giả Hoàng Chí Bảo (1998), "Sự biến đổi mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường". Những thay đổi về văn hoá, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước Châu Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Trong công trình “GDĐĐ với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [70], tác giả Trần Sỹ Phán đã làm sáng tỏ thực chất, vai trò, tầm quan trọng của việc GDĐĐ đối với sự phát triển nhân cách của học sinh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, giao lưu hội nhập mở cửa hiện nay.
Tác giả khẳng định: “Để phát triển giáo dục, đào tạo theo hướng cân đối giữa dạy người, dạy chữ, dạy nghề, trong đó dạy người là mục tiêu cao nhất, trước mắt cần tăng cường hơn nữa công tác GDĐĐ cho thế hệ trẻ để hình thành và phát triển những đạo đức, những giá trị nhân cách trong họ, mà sự phát triển những đạo 11 đức, những giá trị nhân cách là nội dung cơ bản và là mục tiêu trực tiếp của GDĐĐ [70; tr. Trong công trình nghiên cứu của mình “Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách của con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay” [78], tác giả Lê Thị Thủy đã đề cập đến mối liên hệ giữa đạo đức với sự hình thành và phát triển nhân cách; sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam hiện nay dưới tác động của đạo đức, từ đó tác giả xây dựng các giải pháp tăng cường vai trò của đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam hiện nay. Trong công trình nghiên cứu của mình “Về việc tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay” [72], tác giả Nguyễn Văn Phúc cho rằng, “Việc chuyển sang thể chế kinh tế mới tất yếu dẫn đến những biến đổi về chuẩn mực, giá trị đạo đức theo hướng đáp ứng yêu cầu của thể chế mới” [72; tr.4], bên cạnh đó, tác giả đã luận chứng một số giải pháp căn bản để tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta. Trong công trình nghiên cứu của mình “Giáo dục l luận Mác - Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” [2], tác giả Hoàng Anh bàn đến nhân cách và những nhân tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam.
Trong công trình nghiên cứu của mình “GDĐĐ cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay” [13], tác giả Phan Văn Bính đã trình bày rõ tính tất yếu của việc GDĐĐ cho sinh viên là: Xuất phát từ yêu cầu của sự phù hợp ý thức đạo đức với đặc điểm phát triển của xã hội; Xuất phát từ mục tiêu, quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước; Xuất phát từ yêu cầu khắc phục những tồn tại, yếu kém trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của sinh viên hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ nội dung GDĐĐ cho sinh viên hiện nay là: Giáo dục theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Giáo dục những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc; GDĐĐ nghề nghiệp; Giáo dục tinh thần tự chủ, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu để tự khẳng định mình; Giáo dục văn hóa giao tiếp, tình yêu lứa đôi, hạnh phúc gia đình. Để GDĐĐ cho sinh viên một cách hiệu quả nhất, cần chú trọng tới một số hình thức giáo dục như: Giáo dục thông qua môn học lý luận (triết học, kinh tế 12 chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh); Sử dụng hình thức nêu gương “người tốt việc tốt”; Giáo dục thông qua hình thức hoạt động tập thể; Cơ sở đào tạo có trách nhiệm tham gia xây dựng nền đạo đức mới cho sinh viên. Trong công trình nghiên cứu của mình “Quan hệ giữa các giá trị đạo đức truyền thống và hiện đại trong xây dựng đạo đức”[56], tác giả Lê Thị Lan từ chỗ cho rằng, thực tiễn dân tộc nào dung hòa được các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, hay nói cách khác, tìm được phương thức biểu hiện mới của giá trị truyền thống trong thời hiện đại thì sẽ phát triển.
Các giá trị dân tộc truyền thống cần phải được biến đổi cho phù hợp với thời đại mới. Tuy nhiên, trong quá trình biến đổi đó, cần phải có sự gạn lọc, kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống, kết hợp với những giá trị mới mang tinh thần của thời đại. Tác giả đi đến khẳng định: “Việc giải quyết mối quan hệ giữa các giá trị truyền thống và hiện đại không thể dựa trên ý muốn chủ quan của nhà lý luận, mà phải dựa trên cơ sở thực tiễn, dựa vào nền tảng kinh tế xã hội mà trên đó, các giá trị cũ hoặc mới được thừa nhận, phát triển hay loại bỏ” [56; tr. Trong đó, tác giả đã khẳng định tinh thần yêu nước là một đặc trưng căn bản nhất của giá trị truyền thống Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự biến đổi hệ giá trị của dân tộc Việt Nam.
Trong công trình nghiên cứu của mình “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong GDĐĐ cho thanh niên Việt Nam hiện nay” [75], tác giả Lê Thị Hoài Thanh đã đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong GDĐĐ, vận dụng mối quan hệ này vào hoạt động GDĐĐ cho thanh niên. Tác giả cũng đã nêu rõ tầm quan trọng của GDĐĐ đối với thanh niên và chỉ rõ thực trạng của vấn đề này, từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục cho những tồn tại của thực trạng giáo dục. Từ các quan điểm của các tác giả về GDĐĐ cho học sinh THPT, cho thấy: GDĐĐ là một bộ phận quan trọng của giáo dục nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh THPT nói riêng.