phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm có ba chương như sau: Chƣơ 1. Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THCS huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học ở các trường THCS huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
4 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấ đề 1. Các nghiên cứu của nước ngoài Khi được sinh ra, con người đã cần cho mình những kỹ năng để tồn tại và phát triển, chính vì vậy mà giáo dục kỹ năng sống cho con người đã hình thành từ rất sớm, từ khi xã hội chưa phát triển cho đến ngày hôm nay. Con người được rèn luyện và hình thành kỹ năng sống.
Nó được củng cố, trau dồi và định hình trở thành một nét nhân cách của con người. Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ Kỹ năng sống được nói đến bởi những nhà tâm lí học thực hành, coi đó như một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển của mỗi cá nhân. Ở nước ngoài từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về kỹ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kỹ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
[1];[41] Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO, chương trình GDKNS đã được phát triển rộng khắp. Thông qua mạng lưới toàn cầu, các tổ chức đã mở các cuộc hội thảo, cung cấp tài liệu, đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động GDKNS trong thanh thiếu niên thông qua các cách tiếp cận khác nhau. Chương trình này đã được thực hiện và phát triển mạnh trong khu vực Mỹ Latinh và Caribe (bao gồm: Chile, Colombia, Mexico, Peru, Venezuela, Uruguay, Brazil, Costa Rica và vùng Caribe), khu vực Nam Phi và Botswana, khu vực Châu Á (Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ, Nepal, Srilanka, Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philipines, Thái Lan, Việt Nam). Tại Mỹ Latinh, năm 1996, một cuộc hội thảo về KNS được tổ chức tại Costa Rica nhằm đẩy mạnh giáo dục sức khoẻ thông qua giáo dục kĩ năng sống trong các trường học và coi đó như một trong những ưu tiên của mạng lưới y tế tại đây.
Tại khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về giáo dục dựa trên KNS xuất hiện ở các quốc gia chủ yếu vào 5 năm cuối 5 của thế kỉ XX. Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau qua từng lĩnh vực cụ thể, các quốc gia đã từng bước triển khai để đưa KNS vào giáo dục ở trong và ngoài nhà trường. KNS được coi như một phương tiện hiệu quả trong việc phát triển kĩ năng trong thanh thiếu niên để có thể lựa chọn lối sống lành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lí. Năm 1979, Tiến sĩ người Mỹ, Gilbert Botvin - nhà khoa học hành vi và giáo sư tâm thần học - đã nghiên cứu và đưa ra một chương trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 tới lớp 9.
Thông qua các mô đun tương tác, chương trình của ông đã tạo cơ hội cho người học được tiếp cận với những kỹ năng xã hội như: quyết đoán, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề để thể hiện sự từ chối sử dụng các chất gây nghiện. Chương trình đào tạo KNS của Botvin đã được triển khai trong nhiều trường học khác nhau, từ các trường công lập đến các trung tâm tạm giam người chưa thành niên và đã thu được nhiều kết quả ấn tượng. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa hút thuốc trong thanh thiếu niên mà còn giúp tăng thêm giá trị trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, tăng kết quả học tập và sự quan tâm của nhà trường. [43] Ở Thái Lan, năm 1996, GDKNS được nghiên cứu và triển khai cùng chương trình ngăn chặn AIDS.
Chương trình được thực hiện ở cả ba bậc học phổ thông, chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại khoá. Hiện nay, Thái Lan đang trong giai đoạn duy trì và mở rộng phát triển GDKNS trên nhiều lĩnh vực khác nhau và coi đó như là nội dung bắt buộc phải đưa vào giảng dạy trong chương trình của nhà trường ở tất cả các cấp học. Ở Indonesia, năm 1997, GDKNS được đưa ra qua chương trình GDKNS cho cuộc sống khoẻ mạnh, thực hiện trong cấp tiểu học. Từ năm 2001, chính phủ Indonesia đã nỗ lực đưa KNS vào trong chương trình giảng dạy của giáo dục cơ bản.
Nội dung GDKNS bao gồm: GDKNS cho sống khoẻ mạnh (dinh dưỡng, giáo dục vệ sinh, trẻ em/ nhân quyền); GDKNS cho phòng chống HIV/AIDS. Ở Lào, năm 1998, các nghiên cứu về KNS bắt đầu được phát triển. Nhìn chung, GDKNS ở nơi đây được thực hiện thông qua các nội dung cơ bản: Phòng chống HIV/AIDS; phòng chống ma tuý và sử dụng rượu, thuốc lá; phòng chống dịch bệnh; sức khoẻ sinh sản; vấn đề giới; vệ sinh; giáo dục dân số; bảo vệ môi trường; các mối quan hệ với gia đình và bạn bè; trách nhiệm công dân. Các nội dung này được đưa vào trong chương trình giảng dạy của 5 môn học: Thế giới xung quanh ta (ở tiểu học); Sinh học, Công dân, Địa lí, Khoa học tự nhiên (ở trung học).
Ở Myanmar, năm 1998, dự án “Chương trình giáo dục sống khoẻ mạnh và phòng chống HIV/AIDS dựa vào trường học” (School-based healthy living and HIV/AIDS preventive education) (SHAPE) được bắt đầu. Dự án này là sự hợp tác giữa chính phủ Myanmar và tổ chức UNICEF nhằm đưa KNS vào trong giáo dục để thúc đẩy lối sống lành mạnh và ngăn ngừa lây nhiễm HIV. Nội dung của dự án tập trung vào các vấn đề y tế và xã hội liên quan đến trẻ em, thanh thiếu niên và đã có tác động rộng lớn trên cả 6 quốc gia Myanmar. Ở Philippin thì KNS bắt đầu được tích hợp giảng dạy vào trong chương trình giáo dục cơ bản từ năm 2001.
Bên cạnh các chương trình tiếp cận KNS trong giáo dục, Philippin còn triển khai GDKNS trong quân sự, nhằm lồng ghép đưa 11 KNS cốt lõi (tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tự nhận thức, đối phó với cảm xúc, đối phó với căng thẳng, đồng cảm, giao tiếp hiệu quả, kỹ năng quan hệ tích cực, kỹ năng sản xuất kinh doanh) vào chương trình giảng dạy. Ở Campuchia thì từ năm 2001, chương trình GDKNS được phát triển bởi một nhóm liên ngành của Bộ Giáo dục, thanh niên và thể thao (MoEYS). Chương trình là một phần của kế hoạch quốc gia “Giáo dục cho mọi người”, được thực hiện ở cả chính khoá và ngoại khoá trong cả hai cấp học: tiểu học và trung học. Một số dự án thí điểm đã được thực hiện bởi MOEYS cùng với sự hỗ trợ của một số tổ chức phi chính phủ để phát triển các KNS, cùng với nó là phát triển các tập sách về KNS (tập trung vào nông nghiệp, chăn nuôi và vệ sinh).
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, có nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về kỹ năng sống, cụ thể như tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc; đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình với đề tài “Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và đề xuất giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”; Tác giả Nguyễn Công Khanh với “Phương pháp giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống”. Và trong những năm gần đây, đất nước ta đã thực hiện đổi mới công tác giáo dục, trong chương trình đổi mới lại rất chú trọng công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động tập thể, ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp cũng như dạy lồng ghép trong các môn học khác. Bên cạnh đó, còn nhiều công trình nghiên cứu khác về lĩnh vực kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống như luận văn của các thạc sĩ, tiến sĩ của nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu thành công. Đối với lịch sử giáo dục Việt Nam, KNS và vấn đề GDKNS cho con người biết đối nhân xử thế đã có mầm mống từ rất lâu như: học ăn, học nói, học gói, học mở, học để làm người, học để đối nhân xử thể, học để ứng phó với thiên nhiên, với cuộc sống thường ngày.
Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống của con người Việt Nam ta lúc bấy giờ. Và từ những năm 1995 - 1996, thuật ngữ “kỹ năng sống” bắt đầu được biết đến ở Việt Nam qua dự án của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện chương trình: “GDKNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Chương trình này được tập huấn dưới sự dẫn dắt bởi các chuyên gia Australia. Thông qua dự án này, UNICEF đã giới thiệu tại Việt Nam các KNS cơ bản như: Tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, ra quyết định, kiên định và thiết lập mục tiêu nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khoẻ.
[16]; [17] Đến năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESCO phối hợp 7 với Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 tại Hà Nội đã làm rõ hơn và đầy đủ hơn về khái niệm KNS. Như vậy, KNS được tiếp cận dựa trên bốn trụ cột của việc học trong báo cáo của Delors: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định” và nó được coi như là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày.