mở đầu cho nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chủ tịch có tính thuyết phục cao và đem lại hiệu quả to lớn. Hình thức tổ chức dạy - học được thực hiện theo khẩu hiệu hành động: “Người biết chữ dạy người chưa biết, chồng dạy vợ, cha dạy con”. Ai biết chữ đều có thể tham gia dạy bình dân học vụ.
Quan điểm giáo dục của Đảng và Bác Hồ đã thực sự đi vào lòng dân và đã khơi dậy được truyền thống hiếu học 7 của dân tộc, tạo nên một sức mạnh tổng hợp vượt qua mọi khó khăn thử thách để “Ai cũng được học hành”. Từ đó Đảng và nhân dân ta đã ý thức sâu sắc lời dạy của Bác Hồ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.[41] Bước vào thời kỳ đổi mới, các mặt xã hội cũng như giáo dục đã thực hiện “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và dần dần đi tới phong trào xã hội hóa giáo dục. Khái niệm xã hội hóa giáo dục được chính thức sử dụng và đưa vào thực tiễn nước ta trong các văn bản chính sách, chương trình, dự án đầu tư phát triển KT-xã hội. Các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và các hoạt động thực tiễn mỗi khi nói đến xã hội hóa xã hội là nói đến xã hội hóa giáo dục, nó trở thành một phương châm lãnh đạo quản lý, là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để thực hiện sự nghiệp giáo dục.
Đồng thời, nhiều công trình nghiên cứu khoa học bắt đầu tập trung vào phân tích thực tiễn và xu hướng xã hội hóa những hoạt động [55]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 coi việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục [19]. Trong văn kiện Đại hội lần VIII (1996), Đảng ta khẳng định XHH là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, Đảng ta tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục” và lần thứ XI (2011) yêu cầu: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo mọi điều kiện để người dân được học tập suốt đời”[Error! Reference source not found. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016) đề ra nhiệm vụ: “Từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập”. Bên cạnh đó, cần nghiêm túc: “thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa đối với cung cấp các dịch vụ công”. Đặc biệt, cần thực hiện mục tiêu: “khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo”.
Đại hội XIII của Đảng vùa qua tiếp tục khẳng định: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho Giáo dục và đào tạo gắn với đổi mới cơ chế để nâng cao hiệu quả đầu tư. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo đúng hướng, hợp lý”. Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ (ngày 18/4/2005) nêu rõ phương hướng và chủ trương của xã hội hoá giáo dục và 8 Nghị định số 69/2008/NĐ - CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường. Văn kiện Hội nghị BCH TW 7 khoá X tiếp tục nêu rõ vấn đề trên, khẳng định: GD-ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.
Như vậy, xã hội hóa giáo dục không chỉ là công việc của ngành giáo dục mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi tổ chức kinh tế xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. xã hội hóa giáo dục không là một giải pháp ngắn hạn trong lúc ngân sách nhà nước dành cho giáo dục còn hạn hẹp mà là một giải pháp lâu dài, mang tính chiến lược. xã hội hóa giáo dục nhằm đến thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nhằm làm cho không chỉ thế hệ trẻ mà là mọi người dân được hưởng các quyền lợi mà giáo dục đem đến đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người dân, mọi tổ chức chính trị - kinh tế - văn hoá xã hội phát huy cao nhất trách nhiệm và năng lực của mình đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. xã hội hóa giáo dục còn nhằm đến mục tiêu xây dựng xã hội học tập trên đất nước, hình thành thói quen học suốt đời trong từng người dù là trí thức hay lao động chân tay, dù trẻ hay già, đặc biệt là trong thời đại ngày nay khi công nghệ thông tin phát triển nhu vũ bão, xu thế tất yếu của xu hướng toàn cầu hoá với mục tiêu chung là phải nỗ lực hết mình để Việt Nam phát triển nhanh, mạnh và bền vững trong một thế giới hoà bình và ổn định.
Theo Nghi quyết 90-CP về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá. Nội dung của cuộc vận động toàn dân tham gia sự nghiệp giáo dục bao gồm: Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức; vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập. Vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các đoàn thể quần chúng, các doanh nghiệp. đối với sự nghiệp giáo dục.
Nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống giáo dục để phục vụ tốt việc học tập của nhân dân. Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 tại điều 13 quy định “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” và "Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục”. Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tham gia của CMHS, cộng đồng của các tác giả khác đã tổng hợp những quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò và nhiệm vụ của gia đình, sự phối hợp của Nhà trường - Gia đình - Xã hội trong sự nghiệp giáo dục học sinh: Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI” tác giả Phạm 9 Minh Hạc nêu rõ: ‘‘Sự nghiệp giáo dục không chỉ là của Nhà nước mà là của toàn xã hội. Mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục” [Error! Reference source not found.] Trong cuốn sách "Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới” của Võ Tấn Quang đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quần chúng trong công tác giáo dục, theo tác giả: xã hội hóa trong công tác giáo dục là phải phát động phong trào quần chúng làm giáo dục, huy động toàn xã hội tham gia sự nghiệp giáo dục và đào tạo, hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ [47].
Nguyễn Minh Phương “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam” đưa ra một số vấn đề lý luận về xã hội hóa giáo dục, cùng kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động các nguồn lực xã hội, đồng thời cũng đưa ra các quy định hiện hành về xã hội hóa giáo dục ở nước ta; thực trạng xã hội hóa giáo dục và những vấn đề đặt ra cùng các quan điểm, giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục [44]. Như vậy, XHHGD là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng xã hội nhằm trả lại bản chất xã hội cho giáo dục, trả lại nhiệm vụ xã hội cho chính giáo dục, nhằm xây dựng một xã hội học tập. Những nghiên cứu trên đây đã cung cấp cho tác giả cái nhìn tổng quan về công tác xã hội hóa giáo dục. Mỗi đề tài có các tiếp cận riêng tùy vào tình hình và đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi địa phương.
Đây là cơ sở để người nghiên cứu tham khảo và kế thừa những giá trị đã được khẳng định, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1.1 Quản lý Có nhiều quan điểm tiếp cận quản lý (quản lý) như: quan điểm tiếp cận lịch sử, tiếp cận phân tích tổng hợp, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận hệ thống. Quản lí về cơ bản và trước hết là tác động đến con người để họ thực hiện, hoàn thành những công việc được giao; để họ làm những điều bổ ích, có lợi.
Điều đó đòi hỏi ta phải hiểu rõ và sâu sắc về con người như: cấu tạo thể chất, những nhu cầu, các yếu tố năng lực, các quy luật tham gia hoạt động (tích cực, tiêu cực). Quản lí là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường [48].