Chương 1 sẽ tổng quan các nghiên cứu liên quan tới các nhân tố ảnh hưởng tới sự tiếp nhận tri thức của giảng viên Việt Nam thông qua chương trình LKĐTQT. Khái niệm tri thức và tiếp nhận tri thức 1. Khái niệm tri thức Khái niệm tri thức đã được quan tâm từ thời cổ đại và tri thức luận là một lĩnh vực triết học được các triết gia cổ đại Phương Tây chú ý thảo luận. Từ quan điểm triết học và nhận thức luận, định nghĩa tri thức được chia theo hai trường phái: duy tâm (idealist) và kinh nghiệm (empiricist).
Plato, Dercartes, Kant, Hegel, Husserl, Heidegger, Sartre là các học giả điển hình cho trường phái duy tâm (Jashapara, 2011), coi tri thức là một thực thể của trí óc, xuất phát từ khái niệm của Plato: tri thức là “niềm tin được biện hộ hợp lý” (justified true belief) (Kakabadse và cộng sự, 2003). Trường phái kinh nghiệm với các học giả Aristotle, Locke, Hume, Pierce, James, Dewey và Wittgenstein gắn tri thức với hành động, cho rằng tri thức đến từ việc trải nghiệm của các giác quan và bị giới hạn bởi trải nghiệm (Jashapara, 2011). Mặc dù chưa thực sự có sự thống nhất trong quan điểm về tri thức (Jashapara, 2011, Tzortzaki and Mihiotis, 2014), các quan điểm hiện đại được phát triển dựa trên cả hai trường phái này. Tri thức, theo Nonaka (1994), bao hàm sự năng động của mỗi người khi chứng minh niềm tin của họ trong nỗ lực vươn tới chân lý, là “thông tin, công nghệ, bí quyết, kỹ năng” (Grant, 1996), hay “thông tin giá trị cho hành động” (O’Dell and Grayson, 1998).
Tri thức là niềm tin cá nhân được biện hộ hợp lý, thông qua sự tổng hợp của kinh nghiệm, giá trị và đặc tính cá nhân, và sự tương tác với những người khác (Alavi and Leidner, 2001). Những định nghĩa này coi tri thức được phát triển từ sự tích lũy và kiểm chứng thông tin một cách liên tục, do đó là hiểu biết được sử dụng cho việc ra quyết định và hành động. Sutrisno (2014) cho rằng có thể xem xét tri thức ở các mặt nhận thức, thực tiễn, cảm xúc và văn hóa-xã hội. Sử dụng quan điểm của Sutrisno, tri thức trong khuôn khổ 12 luận án được xem xét ở khía cạnh thực tiễn và nhận thức.
Về khía cạnh thực tiễn, tri thức được dùng để diễn giải, đánh giá, tích hợp những kinh nghiệm và tương tác để cải thiện năng lực cá nhân hoặc tổ chức, nhằm đưa ra hành động có tính toán. Về nhận thức, tri thức bao hàm nhận biết, đánh giá, diễn giải thông tin và trải nghiệm mới nhằm nâng cao năng lực ra quyết định của cá nhân (Sutrisno, 2014). Luận án này sử dụng khái niệm tri thức của Davenport and Prusak (1998), cũng là khái niệm được trích dẫn ở nhiều nghiên cứu. Tri thức được định nghĩa như sau: Tri thức là hỗn hợp lỏng của kinh nghiệm, giá trị, thông tin ngữ cảnh và nhìn nhận chuyên sâu, nhằm cung cấp khuôn khổ cho việc đánh giá và tích hợp những kinh nghiệm và thông tin mới.
Tri thức bắt nguồn và được ứng dụng trong tâm trí của người biết. Tri thức không có hình dạng hay cấu trúc cố định (lỏng), có thể mang tính trực quan, chủ quan hoặc khách quan. Tri thức luôn tiến hóa (tích hợp kinh nghiệm và thông tin mới). Do đó, rất khó để có thể lượng hóa, nắm bắt hoặc mô tả được hết tri thức của cá nhân hay tổ chức bằng bất cứ phương tiện gì.
Đặc điểm khiến cho tri thức trở thành đối tượng quan trọng và thường xuyên của chuyển giao, chia sẻ và tiếp nhận trong các mối quan hệ hợp tác là tri thức có khả năng tích hợp và không bị mất đi khi được chia sẻ, cho hay bán (Grant, 1996, Mohapatra và cộng sự, 2016). Khả năng tích hợp quyết định hiệu quả của việc chuyển giao và chia sẻ tri thức. Trong tiếp nhận tri thức, năng lực tiếp nhận tri thức của bên nhận (Cohen and Levinthal, 1990) được xác định bởi khả năng của họ có thể tích hợp tri thức mới vào với tri thức đang có. Việc bên cho không bị mất đi tri thức khi bên nhận tiếp thu tri thức khiến bên cho sẵn sàng và hợp tác hơn trong việc chia sẻ tri thức trong trường hợp chia sẻ tri thức không làm mất lợi thế cạnh tranh của bên cho.
Phân loại tri thức Tri thức được phân chia thành nhiều loại căn cứ vào các khía cạnh khác nhau như sau: (1) theo tính chất tường minh: có 2 loại là tri thức ẩn (tacit) và tri thức hiện (explicit); (2) theo chủ thể của tri thức: có 2 loại là tri thức cá nhân (individual) và tri thức tập thể (collective); (3) theo tính chất và cách thể hiện của tri thức: có 3 loại là tri thức mô tả (know-what), tri thức bí quyết (know-how) và tri thức thông hiểu (know-why). 13 • Tri thức ẩn và tri thức hiện Sự phân loại được phổ biến và chấp nhận rộng rãi nhất của tri thức là phân thành tri thức hiện và tri thức ẩn (Nonaka, 1994). Gilbert Ryle và Michael Polanyi là những học giả cung cấp nền tảng triết học cho sự phân loại này (Jashapara, 2011). Ryle phân biệt trí tuệ, tức “biết cách làm” (knowing how) và sở hữu tri thức, tức “biết thứ đó” (knowing that).
Polanyi với câu nói nổi tiếng “Chúng ta biết nhiều hơn là chúng ta có thể kể ra” gợi ý rằng “biết cách làm”, tức tri thức ẩn và “biết thứ đó”, tức tri thức hiện luôn song hành với nhau, tồn tại cùng nhau trên một trục (Polanyi, 1966). Tri thức hiện là tri thức mà thông tin được mô tả, hiển thị rõ ràng dưới hình thức dữ liệu, ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh hoặc các phương tiện truyền tải thông tin khác. Tri thức này dễ dàng được thể hiện, lưu trữ, nắm bắt và sử dụng thông qua các cơ sở dữ liệu như sách, tài liệu hướng dẫn, nguyên tắc (Nonaka and Takeuchi, 1995, Simonin, 1999). Tri thức hiện có lúc hướng theo nhiệm vụ và ở một mức độ kỹ thuật nhất định (Hong and Nguyen, 2009).
Một ví dụ của tri thức hiện trong đào tạo là chương trình đào tạo của một môn học được cung cấp bởi trường đại học đối tác nước ngoài. Trái ngược với tri thức hiện, tri thức ẩn, theo Polanyi (1996) là tri thức không mô tả được thành lời, có tính trực giác, không rõ ràng. Tri thức ẩn phụ thuộc vào giác quan, kỹ năng, kinh nghiệm, trực giác, và gắn liền với bối cảnh cụ thể ((Nonaka and Krogh, 2009). Tri thức ẩn còn được Nonaka (1991) phân loại tiếp thành tri thức kỹ thuật - thể hiện hiểu biết về kỹ thuật, công nghệ bí quyết và nhận thức ẩn – thể hiện niềm tin, giả định và kinh nghiệm bị ảnh hưởng bởi những nền tảng văn hóa chung của một nhóm người (ví dụ trong một đất nước, một công ty, một gia đình…).
Tri thức ẩn có tính chủ quan theo bối cảnh và quan điểm cá nhân và vì thế khó có thể tổng hợp và truyền đạt (Dhanaraj và cộng sự, 2004). Không có ranh giới rõ ràng giữa tri thức hiện và tri thức ẩn (Nonaka and Krogh, 2009, Polanyi, 1966). Chúng ở hai đầu của một trục. Hầu như mọi tri thức đều có một mức độ ẩn và mức độ hiện (Alavi and Leidner, 2001).
Ví dụ như tri thức về phương pháp đánh giá sinh viên trong một chương trình LKĐTQT, các tiêu chí đánh giá được cung cấp bởi đối tác nước ngoài là hiện, còn cách đưa ra nhận xét của giảng viên sao cho phù hợp là ẩn, phụ thuộc vào kinh nghiệm của giảng viên. So với tri thức hiện, tri thức ẩn khó được tiếp nhận hơn và đòi hỏi tương tác trực tiếp (ví dụ như gặp mặt, tham gia seminar) để chuyển giao. Vì thế, trong các LKĐTQT, khả năng tiếp nhận của tri thức hiện thường nhiều hơn so với tri thức ẩn. 14 • Tri thức cá nhân và tri thức tập thể Cách phân loại thứ hai chia tri thức thành tri thức cá nhân và tri thức tập thể.
Tri thức cá nhân là hiểu biết của một cá nhân cụ thể. Cook và Brown (1999), cho rằng mặc dù tập thể không có tri thức của nó, song tri thức tập thể là những hiểu biết chung của tập thể đó. Từng cá nhân trong tập thể có thể không sở hữu toàn bộ tri thức tập thể, song tri thức này được được sở hữu bởi tập thể như một thể thống nhất. Một số tác giả cho rằng tri thức tập thể thực ra không tồn tại, hoặc chí ít là rất mờ nhạt, vì “quá trình học hỏi diễn ra trong trí óc của từng cá nhân” (Simon, 1991), và lập luận này được Grant (1996) ủng hộ khi cho rằng tạo ra tri thức là một hoạt động cá nhân, còn tập thể, hay tổ chức, có nhiệm vụ chính là áp dụng những tri thức sẵn có của các cá nhân để cung cấp của cải và dịch vụ.
Một số học giả khác, bao gồm Nonaka, Nahapiet and Ghoshal, Brown and Duguid, cho rằng tri thức có tính xã hội (Tzortzaki and Mihiotis, 2014). Khi các cá nhân trong tổ chức được khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm, tri thức đó trở thành tri thức tập thể. Loại tri thức tập thể được bàn luận nhiều nhất là tri thức tổ chức. Nonaka và Takeuchi (1995) định nghĩa tri thức tổ chức là khả năng của tổ chức tạo ra tri thức mới, truyền bá tri thức đó trong tổ chức và đưa nó vào trong sản phẩm, dịch vụ và hệ thống của tổ chức.
Luận án này tập trung tìm hiểu về sự tiếp nhận tri thức của cá nhân, tức quá trình chuyển hóa tri thức tổ chức của đối tác nước ngoài thành tri thức của cá nhân cán bộ, giảng viên chương trình LKĐTQT. Đây là sự tiếp nhận tri thức của cá nhân và tập thể (những nội dung, phương pháp, bí quyết…về đào tạo) và chuyển hóa thành tri thức cá nhân. Những nghiên cứu đã có của Việt Nam và thế giới về tiếp nhận tri thức trong các hợp tác quốc tế chủ yếu tập trung vào tri thức tập thể của hai đối tác trong và ngoài nước. Do đó, mô hình nghiên cứu của tác giả sẽ có nhiều hơn những nhân tố thuộc về vai trò của cá nhân so với các mô hình tiếp nhận tri thức đã kiểm nghiệm trước đó.
• Tri thức mô tả (know-what), tri thức bí quyết (know-how) và tri thức thông hiểu (know-why) Khái niệm về sự hiểu biết mô tả và bí quyết được Ryle (1949) đưa ra, và sau đó Anderson (1981) phát triển tiếp thành hai nhóm là tri thức mô tả và tri thức bí quyết. Tiếp nối sự phân loại này, một số tác giả khác (Garud, 1997) đã phát triển và bổ sung thêm về tri thức thông hiểu (wisdom – know-how).