MỞ ĐẦU Thứ nhất, lý do lựa chọn tên đề tài luận án Tự chủ đại học được hiểu là sự biến đổi mối tương quan giữa Nhà nước với cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) công lập theo tinh thần phát huy truyền thống tự do học thuật và quản trị đại học trên tất cả các mặt chuyên môn, tổ chức, tài chính, nhân sự. Tự chủ đại học thúc đẩy cắt giảm các can thiệp trực tiếp từ cơ quan công quyền đến hoạt động của cơ sở giáo dục đại học công lập; hay cũng chính là thúc đẩy giảm bớt sự phụ thuộc của cơ sở GDĐH vào Nhà nước. Mục đích chủ yếu của tự chủ đại học là thúc đẩy quyền làm chủ của các cơ sở giáo dục đại học công lập, tạo điều kiện để những cơ sở giáo dục đại học công lập có thể hoạt động một cách độc lập, có hiệu quả và đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của người học, của nhà tuyển dụng cũng như của toàn xã hội. Tự chủ đại học là yếu tố then chốt tạo ra sự thành công của các cuộc cải cách GDĐH.
Ở Việt Nam, chính sách tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học đã được thể hiện trong Luật giáo dục năm 2005, Luật giáo dục đại học năm 2012, điều lệ của trường đại học, các nghị định, nghị quyết của Chính phủ, các văn bản của Bộ giáo dục và các bộ ngành khác ở trung ương…. Gần 20 năm từ khi ban hành những chính sách thúc đẩy phát triển giáo dục đại học, chính sách tự chủ đại học đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; đến thời điểm hiện nay, chính sách tự chủ đại học ở Việt Nam vẫn đang là chủ đề nóng, với nhiều ý kiến và bàn luận sôi nổi. Đó là tình trạng không thống nhất giữa các văn bản ban hành của Chính phủ làm ảnh hưởng đến việc triển khai tự chủ ở các cơ sở giáo dục đại học; là sự không thống nhất giữa các văn bản của chính phủ với các quy định của Đảng về nhân sự (Nghị định số 99/2019/NĐ-CP, Nghị quyết số 516-NQ/BCSĐ ngày 24/9/2019 của Ban Cán sự đảng Bộ GDĐT về việc phân cấp xem xét, phê duyệt quy hoạch cán bộ của các cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ GDĐT); những Luật được Quốc hội ban hành với Nghị định của chính phủ (Luật 34/QH14 có sự không thống nhất với Nghị định 120/2020 về thẩm quyền thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập); đó còn là sự không thống nhất giữa những Nghị định, Thông tư của chính phủ (Nghị định số 99/2019/NĐ-CP và Thông tư số 33/2005/TT-BGD&ĐT về chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo trong các cơ sở giáo dục công lập, đặc biệt là vị trí chủ tịch hội đồng trường); hay là những văn bản mà nội hàm chính sách tự gây vướng mắc cho quá trình thực thi (Luật GDĐH chưa quy định về nhiệm kỳ, thời hạn bổ nhiệm đối với các chức vụ thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của hiệu trưởng thì sẽ theo nhiệm kỳ của hiệu trưởng hay theo quy định của Luật viên chức)… Khi chưa giải quyết được những vấn 2 đề bất cập này, chính sách tự chủ đại học còn đem đến những vướng mắc đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, làm cản trở sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu được công bố bằng tiếng Việt và tiếng Anh về chủ đề này; những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các thành tựu và hạn chế của các chính sách, các phân hệ chính sách liên quan đến tự chủ đại học của Việt Nam.
Tuy nhiên việc nghiên cứu chính sách kết hợp giữa từng phân hệ và tác động của chúng đến mức độ tự chủ của từng loại hình cơ sở giáo dục đại học dưới sự thay đổi theo dòng thời gian và đánh giá của đội ngũ sư phạm ở các cơ sở giáo dục đại học là chưa được thực hiện. Đề tài tiếp cận theo hướng tiếp cận này, do đó, cung cấp cái nhìn tổng thể về sự thay đổi trong từng nội hàm chính sách tự chủ đại học và bức tranh đánh giá về quyền tự chủ mà các cơ sở giáo dục đại học đang triển khai, là tiền đề để hoàn thiện hệ thống chính sách giáo dục đại học, chính sách tự chủ đại học trong giai đoạn tới. Chính vì vậy, việc nghiên chủ đề “Chính sách tự chủ đại học đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn xứng tầm với nghiên cứu của một luận án tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế. Thứ hai, mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án Về mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích chính sách tự chủ đại học đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam, luận án đề xuất quan điểm, và giải pháp hoàn thiện chính sách tự chủ đại học đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam tới năm 2025, tầm nhìn 2035.
Về mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về chính sách đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập hoạt động trong bối cảnh tự chủ. - Đánh giá thực trạng chính sách tự chủ đại học đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế. - Khảo cứu kinh nghiệm chính sách tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học trên thế giới để đánh giá, so sánh chính sách tự chủ đối với cơ sở GDĐH công lập của Việt Nam với các các quốc gia đi theo mô hình nhà nước quản lý giáo dục đại học trên thế giới. - Từ những đánh giá về hạn chế và nguyên nhân, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, luận án kiến nghị và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tự chủ đại học đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam trong thời gian tới.
3 Thứ ba, câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận án 1) Chính sách tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam đã được điều chỉnh như thế nào từ sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. 2) Các phân hệ của chính sách tự chủ đại học có tác động khác nhau như thế nào đối với tình trạng tự chủ đại học ở các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam? 3) Chính sách tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam có những điểm gì giống và khác với chính sách tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở các quốc gia vận dụng mô hình nhà nước quản lý giáo dục đại học? 4) Những bất cập hiện hành trong nội hàm chính sách tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam nên được điều chỉnh ra sao trong những năm tới? Thứ tư, phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án Về chủ thể ban hành chính sách: Chính sách tự chủ đại học được xác định với 4 phân hệ, các phân hệ chính sách có thể bị điều chỉnh bởi các chủ thể khác nhau từ Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo rồi các bộ ngành có liên quan, chính quyền tỉnh… Luận án chỉ tập trung nghiên cứu hệ thống văn bản pháp quy có liên quan được ban hành bởi chủ thể gồm Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, và một số chính sách lớn có liên quan do Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ ban hành. Các chủ thể ban hành chính sách này được rà soát qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp quy có liên quan đến từng phân hệ của chính sách tự chủ đại học ở Việt Nam. Về nội dung: Do chính sách tự chủ đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập, theo các nghiên cứu được công bố ở trong và ngoài nước, được xem xét với 4 phân hệ.
Nghiên cứu này do đó, cũng xác định chính sách tự chủ đại học cũng bao gồm 4 phân hệ, cụ thể là: chính sách tự chủ về bộ máy, chính sách tự chủ về tài chính, chính sách tự chủ về đào tạo/học thuật, chính sách tự chủ về nhân sự. Về thời gian: Chính sách về tự chủ đại học đã có nhiều thay đổi cùng với sự ra đời của Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13, rồi đến những năm gần đây là Luật 34 - Luật liên quan đến điều chỉnh một số điều của Luật giáo dục đại học năm 2012, Nghị định 99, rồi Nghị định 60/NĐ-CP năm 2021 về tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; một số văn bản được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong năm 2022 để quản lý giáo dục đại học. Luận án đề xuất các quan điểm, kiến nghị giải pháp để 4 chính sách phát triển giáo dục đại học nói chung, tự chủ đại học nói riêng phát huy vai trò của giáo dục đại học đến năm 2035. Về đối tượng thụ hưởng của chính sách: vì các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam trực thuộc các chủ thể quản lý khác nhau.
Chính vì vậy để nghiên cứu tác động của chính sách tự chủ đến sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam, nghiên cứu này đã lựa chọn các nhóm cơ sở giáo dục đại học công lập khác nhau để tiến hành nghiên cứu thực địa. Các nhóm trường được lựa chọn là hệ thống cơ sở giáo dục đại học trực thuộc đại học quốc gia, hệ thống cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, hệ thống cơ sở giáo dục đại học trực thuộc các bộ ngành ở trung ương, và hệ thống cơ sở giáo dục đại học trực thuộc chính quyền tỉnh.