Tổng quan nghiên cứu

Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên là nhiệm vụ then chốt quyết định chất lượng giáo dục đại học, được cụ thể hóa trong Quyết định số 89/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục giai đoạn 2019-2030. Được thành lập theo Quyết định số 5600/QĐ-BGDĐT ngày 27/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở nâng cấp cơ sở đào tạo phía Nam, Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh đứng trước sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực công vụ chất lượng cao cho khu vực Nam Bộ và Tây Nguyên.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá tính toàn diện của quá trình thực thi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên tại một cơ sở giáo dục đại học mới chuyển đổi mô hình. Luận văn hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực thi chính sách nhân sự học thuật, khảo sát thực trạng triển khai trong giai đoạn đầu thành lập, và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên đến năm 2024, tầm nhìn 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ đội ngũ giảng viên tại cơ sở số 181 Lê Đức Thọ, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, với dữ liệu thực chứng được thu thập từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi chỉ rõ khoảng cách giữa tiêu chuẩn kiểm định giáo dục đại học (tối thiểu 25% tiến sĩ) với thực trạng 11,1% tiến sĩ tại Phân hiệu, đồng thời giải quyết bài toán tuyển sinh 350 chỉ tiêu năm 2019 và mở rộng lên quy mô 500 đến 950 sinh viên mỗi năm trong các giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự tích hợp của các lý thuyết quản lý nhân sự hiện đại và lý thuyết chu trình chính sách công. Đầu tiên, lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục của Eggland và Ann Maycunich (năm 2002) cùng quan điểm của Piper và Glatter được vận dụng để xác định việc phát triển giảng viên là quá trình liên tục kết hợp giữa nhu cầu tự hoàn thiện của cá nhân và mục tiêu chiến lược của tổ chức. Tiếp đó, mô hình tiếp cận thể chế và hỗ trợ nguồn lực của Webb và Murphy (năm 2000) cùng mô hình 7 trụ cột phát triển năng lực học thuật của Skilbeck Massey (năm 1984) cung cấp nền tảng để xem xét các chính sách hỗ trợ tài chính, seminar chuyên đề và hợp tác nghiên cứu.

Khung phân tích thực thi chính sách dựa trên mô hình chu trình 5 bước của Thomas Dye và Amy DeGroff, bao gồm: lập kế hoạch triển khai, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp, kiểm tra đôn đốc, và đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm. Bốn khái niệm cốt lõi được định hình gồm: giảng viên đại học (theo Điều 54 Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018), đội ngũ giảng viên, phát triển đội ngũ giảng viên (đảm bảo số lượng, cơ cấu, chất lượng và sự đồng thuận), và thực thi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên trong khu vực công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống văn bản pháp lý như Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT, cùng các báo cáo thống kê nhân sự, kế hoạch đào tạo giai đoạn 2016-2019 của Bộ Nội vụ và Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đóng - mở gồm 23 câu hỏi chi tiết. Cỡ mẫu nghiên cứu là 36 người, tương ứng 100% tổng số giảng viên cơ hữu và kiêm nhiệm thực tế của Phân hiệu tại thời điểm khảo sát tháng 12/2019. Phương pháp chọn mẫu tổng thể toàn bộ được lựa chọn vì quy mô nhân sự của Phân hiệu ở mức vừa phải, giúp loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu ngẫu nhiên và phản ánh chính xác 100% tiếng nói của đối tượng thụ hưởng chính sách.

Dữ liệu thu về được xử lý và phân tích trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh chỉ số tương đối, tuyệt đối được áp dụng nhằm lượng hóa mức độ hài lòng, động cơ làm việc, cơ cấu học vị và các hạn chế nghiệp vụ sư phạm, mang lại tính khách quan khoa học cao cho toàn bộ kết quả khảo sát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế 36 giảng viên tại Phân hiệu vào tháng 12/2019 đã chỉ ra 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, cơ cấu trình độ học vị còn mất cân đối lớn. Trong tổng số 36 giảng viên, có 4 Tiến sĩ (chiếm 11,1%), 23 Thạc sĩ (chiếm 63,9%), và 9 Cử nhân hoặc đang theo học cao học (chiếm 25,0%). Tỷ lệ giảng viên đạt trình độ Thạc sĩ vượt quy chuẩn 40%, nhưng tỷ lệ Tiến sĩ mới đạt 11,1%, thiếu tới 13,9% so với tiêu chuẩn kiểm định tối thiểu 25% của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thứ hai, mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu chuyên ngành đào tạo. Trong số 6 ngành đại học được giao đào tạo giai đoạn 2019-2024 (gồm Luật, Quản lý nhà nước, Quản trị nhân lực, Lưu trữ học, Quản trị văn phòng, Quản lý văn hóa), nhân sự cơ hữu chủ yếu tập trung ở ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng (chiếm khoảng 65%). Bốn ngành còn lại thiếu hụt nhân lực đứng lớp trầm trọng, khiến nhà trường phải thuê giảng viên thỉnh giảng đảm nhận tới 80% khối lượng học phần chuyên ngành và cơ sở.

Thứ ba, năng lực nghiên cứu khoa học và sư phạm đại học còn nhiều rào cản. Có 11 trên 36 nhân sự chuyển ngạch từ giáo viên trung cấp nhưng chưa thực tế tham gia giảng báo cáo đại học. Khoảng 90% hoạt động nghiên cứu khoa học chỉ dừng lại ở mức viết bài cho Nội san Khoa học Nội vụ hoặc kỷ yếu nội bộ; chưa có bài báo công bố trên tạp chí quốc tế hay đề tài nghiên cứu ứng dụng cấp Nhà nước.

Thứ tư, giới hạn tải đào tạo của đội ngũ hiện hữu. Căn cứ Thông tư 32/2015/TT-BGDĐT với định mức 25 sinh viên trên một giảng viên khối ngành III, 36 giảng viên chỉ đáp ứng quy mô tối đa 700 sinh viên. Quy mô này đáp ứng chỉ tiêu 350 sinh viên của năm 2019, nhưng sẽ rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng khi quy mô tuyển sinh nâng lên 500 đến 950 sinh viên mỗi năm từ năm 2020 đến 2024.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên xuất phát từ bối cảnh lịch sử: Phân hiệu tiếp nhận nguyên trạng cơ sở vật chất và nhân sự từ Trường Trung cấp Văn thư - Lưu trữ Trung ương theo Quyết định số 4035/QĐ-BNV năm 2016. Phần lớn đội ngũ quen với phương pháp giảng dạy trung cấp thực hành, chưa kịp tích lũy phương pháp sư phạm đại học tương tác và năng lực nghiên cứu độc lập. Thêm vào đó, việc cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều công tác hành chính khiến quỹ thời gian dành cho học tập nâng cao trình độ và khảo sát thực tiễn ngành nghề bị thu hẹp đáng kể.

So sánh với các công trình của Nguyễn Văn Đệ (năm 2010) tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Lê Thanh Huyền (năm 2016), thách thức mà Phân hiệu gặp phải phản ánh quy luật phổ biến của các cơ sở giáo dục đại học mới nâng cấp. Việc thiếu vắng chính sách hỗ trợ tài chính linh hoạt "vừa rộng vừa mỏng" như lý thuyết Webb và Murphy đã đề cập làm giảm động lực làm nghiên cứu sinh của các giảng viên trẻ có mức thu nhập trung bình.

Để minh họa trực quan các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng học vị thực tế (11,1% Tiến sĩ) với chuẩn kiểm định quốc gia (25% Tiến sĩ), kết hợp cùng bảng thống kê ma trận phân bổ nhân sự theo 6 ngành đào tạo nhằm làm nổi bật khoảng trống 80% học phần đang phụ thuộc hoàn toàn vào giảng viên thỉnh giảng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 nhóm giải pháp đột phá được xây dựng nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách quy hoạch và thu hút giảng viên chất lượng cao. Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và Ban Giám đốc Phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng đề án tuyển dụng đặc thù từ năm 2021 đến 2025, phấn đấu tuyển dụng mới từ 15 đến 20 Tiến sĩ đúng chuyên ngành Luật, Quản trị nhân lực, Quản lý nhà nước, nâng tỷ lệ giảng viên có học vị Tiến sĩ lên mức tối thiểu 25% vào năm 2024 và đạt 35% vào năm 2030.

Thứ hai, chuẩn hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực sư phạm và nghiên cứu khoa học. Phân hiệu cần phê duyệt lộ trình cử 100% giảng viên trình độ Thạc sĩ dưới 40 tuổi đi làm nghiên cứu sinh; hỗ trợ 50% đến 100% học phí và giảm 30% định mức giờ giảng cho giảng viên đang làm luận án tiến sĩ. Đồng thời, tổ chức thường niên 4 khóa tập huấn chuyên sâu về phương pháp giảng dạy số hóa và kỹ năng viết bài báo khoa học quốc tế.

Thứ ba, tăng cường nguồn lực tài chính và xây dựng môi trường học thuật sáng tạo. Ban lãnh đạo Phân hiệu cần trích tối thiểu 5% đến 8% từ nguồn thu sự nghiệp hợp pháp để thành lập Quỹ Phát triển khoa học công nghệ; quy định mỗi giảng viên cơ hữu hoàn thành ít nhất 1 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở hoặc 1 bài báo chuyên ngành mỗi năm; từng bước kéo giảm tỷ lệ phụ thuộc vào giảng viên thỉnh giảng từ 80% xuống dưới 40% trong giai đoạn 2021-2024.

Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp quản lý và hoàn thiện thể chế phối hợp. Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tạo cơ chế tự chủ linh hoạt cho Phân hiệu trong việc ký hợp đồng mời chuyên gia đầu ngành, luân chuyển giảng viên giỏi từ cơ sở chính Hà Nội vào giảng dạy tại Thành phố Hồ Chí Minh, tạo mạng lưới hợp tác học thuật bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, Ban Giám hiệu, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý nhân sự tại các trường đại học, phân hiệu đại học mới thành lập. Luận văn cung cấp mô hình thực nghiệm, công cụ chẩn đoán thực trạng đội ngũ và các bước triển khai chính sách phát triển giảng viên phù hợp với điều kiện chuyển đổi mô hình từ trường nghề, trung cấp lên đại học.

Thứ tư, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và các cơ quan chủ quản. Dữ liệu thực chứng của đề tài là nguồn tham khảo tin cậy để điều chỉnh các quy định về định biên vị trí việc làm, tỷ lệ sinh viên trên giảng viên, và cơ chế tài chính đặc thù cho các phân hiệu giáo dục đại học vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công và Quản lý giáo dục. Luận văn cung cấp khung lý thuyết 5 bước thực thi chính sách chuẩn mực cùng bộ công cụ khảo sát 23 tiêu chí đo lường sự hài lòng và năng lực giảng viên, có thể tái sử dụng cho các nghiên cứu tương tự.

Thứ tư, giảng viên trẻ và nghiên cứu viên tại các cơ sở giáo dục đại học công lập. Công trình giúp giảng viên nhận diện rõ các tiêu chuẩn về ngạch bậc, chuẩn đầu ra nghiên cứu khoa học, từ đó chủ động xây dựng lộ trình tự đào tạo nâng cao trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đáp ứng yêu cầu của Đề án 89/QĐ-TTg.

Câu hỏi thường gặp

Một là, tại sao Phân hiệu phải sử dụng tới 80% giảng viên thỉnh giảng trong công tác đào tạo? Nguyên nhân là do tiền thân Phân hiệu tiếp nhận nhân sự từ Trường Trung cấp Văn thư - Lưu trữ Trung ương, nên giảng viên cơ hữu tập trung chủ yếu vào 2 ngành Văn thư và Lưu trữ học. Khi mở rộng đào tạo 6 ngành đại học như Luật và Quản lý nhà nước, trường thiếu hụt nhân lực chuyên sâu nên bắt buộc phải mời thỉnh giảng để bảo đảm chương trình.

Hai là, tỷ lệ giảng viên có học vị Tiến sĩ của Phân hiệu năm 2019 đạt bao nhiêu và thiếu bao nhiêu so với chuẩn? Tính đến tháng 12/2019, Phân hiệu có 4 Tiến sĩ trên tổng số 36 giảng viên, đạt tỷ lệ 11,1%. So với quy định chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu cơ sở giáo dục đại học phải có tối thiểu 25% giảng viên trình độ Tiến sĩ, Phân hiệu còn thiếu 13,9%.

Ba là, rào cản lớn nhất trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên Phân hiệu là gì? Rào cản lớn nhất là thói quen giảng dạy trung cấp trước đây nặng về thực hành nghiệp vụ đơn thuần, thiếu kỹ năng xử lý số liệu định lượng và phát hiện vấn đề nghiên cứu mới. Đồng thời, khối lượng công việc kiêm nhiệm hành chính nhiều khiến giảng viên thiếu thời gian đầu tư cho các đề tài khoa học chuyên sâu.

Bốn là, phương pháp thu thập dữ liệu trong luận văn có bảo đảm độ tin cậy khoa học không? Phương pháp có độ tin cậy rất cao nhờ thực hiện điều tra toàn bộ 36 trên 36 giảng viên cơ hữu và kiêm nhiệm của Phân hiệu (đạt tỷ lệ 100%), không xảy ra sai số chọn mẫu. Bảng hỏi gồm 23 câu hỏi được xử lý bằng phần mềm Excel theo các chỉ số thống kê rõ ràng, minh bạch.

Năm là, mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên của Phân hiệu đến giai đoạn 2020-2024 đặt ra những chỉ tiêu gì? Mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ lệ giảng viên có học vị Tiến sĩ lên trên 25%, giảm tỷ lệ thỉnh giảng xuống dưới 40%, 100% giảng viên cơ hữu tham gia nghiên cứu khoa học, và bảo đảm đủ quy mô giảng viên để đáp ứng tuyển sinh từ 500 đến 950 sinh viên mỗi năm theo định mức 25 sinh viên trên một giảng viên.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chu trình thực thi chính sách phát triển đội ngũ giảng viên đại học gồm 5 bước chặt chẽ theo chuẩn chính sách công.
  • Đánh giá chính xác thực trạng đội ngũ tại Phân hiệu năm 2019 với 36 giảng viên, chỉ rõ tỷ lệ Tiến sĩ đạt 11,1% (thiếu 13,9% so với chuẩn) và tỷ lệ phụ thuộc thỉnh giảng lên tới 80%.
  • Nhận diện đúng các điểm nghẽn về năng lực nghiên cứu khoa học và sự mất cân đối chuyên ngành đào tạo do yếu tố lịch sử chuyển đổi từ trường trung cấp.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao về quy hoạch, tuyển dụng, bồi dưỡng học vị và cơ chế tài chính nhằm chuẩn hóa đội ngũ giai đoạn 2021-2025.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén giúp Phân hiệu xây dựng chiến lược phát triển nhân sự vững chắc hướng tới mục tiêu mở rộng quy mô đào tạo từ 500 đến 950 sinh viên/năm và tầm nhìn học thuật đến năm 2030.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho công tác quản trị đại học hiện đại. Các nhà quản lý giáo dục, cơ quan chủ quản và giảng viên quan tâm hãy nghiên cứu, áp dụng các giải pháp thực thi chính sách này để nâng tầm chất lượng đội ngũ giảng viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học toàn diện.