CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HỆ ĐÀO TẠO TỪ XA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Hoạt động học tập của sinh viên Minoru Nakayama và các cộng sự (2014) trong đề tài “Tác động của đặc điểm và hành vi học tập của người học đến hiệu suất học tập trong một khóa học hoàn toàn trực tuyến” đăng trên Tạp chí điện tử đã đưa đến kết luận: “Để tối đa hóa hiệu suất học tập trong môi trường học tập trực tuyến hoàn toàn, việc phát triển hành vi ghi chú tốt hơn và môi trường học tập tốt hơn cho các môn học đại học là rất quan trọng.
Tất nhiên, các yếu tố tâm lí khác như hiệu quả học tập có thể ảnh hưởng đến hành vi ghi chép. Theo những kết quả này, cần có một hệ thống hỗ trợ và cải tiến giáo dục để cải thiện hoạt động học tập trong một khóa học hoàn toàn trực tuyến.394-408] Evangelia và cộng sự (2019) qua bài báo có tiêu đề “Đặc điểm học tập của sinh viên, nhận thức về việc giảng dạy ở trường đại học theo nhóm nhỏ và sự thấu hiểu thông qua “sự kết nối tâm trí” đã cho rằng: “Chương trình đào tạo chuyên nghiệp ưu tiên kết nối quan trọng giữa giảng viên, sinh viên và môn học có thể được hưởng lợi nhờ ý tưởng “sự kết nối tâm trí” như một phương pháp giảng dạy. Chương trình đào tạo đại học cần hướng tới cách tiếp cận đa dạng, phục vụ cho những sinh viên có mục đích và sở thích học tập khác nhau, bằng cách cung cấp tài liệu hoặc bài tập theo bộ với mức độ phức tạp khác nhau trong cùng một môn học.11] Nikolopoulou và cộng sự (2023) trong nghiên cứu “Học tập kết hợp trong bối cảnh giáo dục đại học: Khám phá hành vi học tập của sinh viên đại học” trên Tạp chí Khoa học Giáo dục đã phát hiện ra những điểm sau: 8 “Nhìn chung, học sinh thể hiện nhận thức tích cực về hành vi học tập kết hợp một cách tích cực; tỷ lệ đồng ý cao hơn có liên quan đến vai trò của tài nguyên nghe nhìn trực tuyến trong việc tạo điều kiện và hỗ trợ việc học tập độc lập cũng như động lực của học sinh trong giáo dục kết hợp. Kết quả của nghiên cứu này có thể bổ sung thêm bằng chứng về giáo dục tổng hợp trong bối cảnh giáo dục đại học.
Học tập kết hợp nổi lên như một xu hướng ‘mới’ sau đại dịch trong giáo dục đại học và các phương pháp tiếp cận kết hợp có thể sẽ còn trở nên phổ biến hơn; chuẩn mực ‘mới’ này phù hợp với sinh viên đại học đã trưởng thành và có tinh thần học tập độc lập hơn.11-12] Thái Văn Anh (2014) trong bài viết Một số đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên Học viện Phật giảng Việt Nam trên Tạp chí Khoa học xã hội, Nhân văn và Giáo dục đã chỉ ra bốn đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên Học viện Phật giảng Việt Nam bao gồm: “Đặc điểm thứ nhất: Hoạt động học tập của sinh viên Học viện Phật giảng Việt Nam mang tính độc lập, tự giác, trí tuệ cao; Đặc điểm thứ hai: Học tập của sinh viên Học viện Phật giảng Việt Nam hướng đến nhiều mục tiêu; Đặc điểm thứ ba: Hình thức học tập của sinh viên Học viện Phật giảng Việt Nam bao gồm cả hoạt động ở trên lớp và ở ngoài lớp; Đặc điểm thứ tư: Hoạt động học tập của sinh viên Học viện Phật giảng Việt Nam còn mang tính thụ động.64-66] Nguyễn Thị Duyên (2018) qua nghiên cứu “Thực trạng sử dụng thời gian cho hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Hồng Đức” trên Tạp chí Khoa học đã kết luận: “Hiện nay đã có một bộ phận sinh viên dành thời gian cho tự học, chủ động học thêm Ngoại ngữ và Tin học để vươn xa hơn trong tương lai, tích cực tìm kiếm tài liệu học tập, tri thức để không bị tụt hậu… Song hoạt động tự học thường tập trung vào những ngày gần thi hoặc những ngày thi. Bên cạnh đó, với nhu cầu nâng cao kiến thức, số lượng 9 sinh viên tham gia các lớp học thêm để bổ sung đang ngày một tăng lên, với số thời gian ngày một nhiều. Đây là một trong những điểm tích cực của sinh viên trước sự mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, trong việc sử dụng thời gian ngoài giờ học của sinh viên, vẫn còn những mặt hạn chế như sau: Đa phần các em sử dụng thời gian tùy tiện, chưa có kế hoạch, thời gian biểu hoặc sự sắp xếp khoa học cho các hoạt động mỗi ngày.
Vì vậy, để thời gian trôi đi lãng phí; Một số sinh viên đã có sự sắp xếp nhưng chưa cân đối giữa học - làm, ăn - chơi, một số khác lại chỉ lo học lo làm mà quên mất những nhu cầu cá nhân trong cuộc sống. Một số không nhỏ chỉ lo ăn chơi, nhậu nhẹt, đàn đúm để giết thời gian mà quên mất mục đích tự học sau giờ học tại giảng đường.27-28] Nguyễn Lan Nguyên (2020) trong Luận án Tiến sĩ về “Ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập và đời sống của sinh viên hiện nay” đã cho rằng: “… về ảnh hưởng của Facebook đến việc học tập của sinh viên, những ảnh hưởng đáng chú ý mà luận án chỉ ra có liên quan tới những khía cạnh như: tìm kiếm, chia sẻ tài liệu học tập; trao đổi thông tin học tập; nghiên cứu khoa học; phát triển những kĩ năng xã hội, kĩ năng nghề nghiệp và kĩ năng sống nói chung, đặc biệt là kĩ năng mềm;… Bên cạnh những mặt tích cực, một số ảnh hưởng tiêu cực của Facebook tới sinh viên trong vấn đề này là gồm: khiến sinh viên mất tập trung trong quá trình học tập; khiến nhiều sinh viên thường xuyên phải thức khuya; gây lãng phí thời gian và không gian học tập của sinh viên; làm giảm khả năng tương tác với các mối quan hệ ngoài đời thực của sinh viên; sự hình thành những giá trị lệch chuẩn,…” [11, tr.19-20] Phạm Văn Hùng (2013) trong luận văn Thạc sĩ đề tài “Quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Tôn Đức Thắng” đã kết luận: 10 “Hoạt động học tập của sinh viên trường đại học Tôn Đức Thắng có đặc điểm là: Phần lớn sinh viên đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động học tập đối với bản thân. Tuy nhiên, sinh viên chỉ nhận thức được vai trò của hoạt động học tập với những mục tiêu trước mắt, ngắn hạn và có tác động ngay đến bản thân, một số vai trò có tính chất lâu dài của hoạt động học tập không được sinh viên chú trọng. Kĩ năng và phương pháp học tập còn hạn chế, sinh viên chưa có thói quen xây dựng kế hoạch học tập, nội dung tự học chỉ có tính chất đối phó với các nhiệm vụ học tập trước mắt mà chưa chủ động học để tìm tòi, khám phá kiến thức chuyên ngành.75] Nguyễn Thanh Sơn (2020) trong Luận án Tiến sĩ đề tài “Quản lý hoạt động học tập của sinh viên tại các trường đại học ngoài công lập phía Nam” đã kết luận: “Kết quả khảo sát cho thấy, đa phần sinh viên tại các trường đại học ngoài công lập phía Nam đều đã xác định được mục tiêu học tập là để nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của ngành nghề và rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tương lai.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát về nội dung, phương pháp và hình thức học tập cho thấy, đa phần sinh viên mới chỉ tập trung vào các nhiệm vụ học tập trước mắt, do giảng viên giao cho; sinh viên chưa thật sự chủ động học những nội dung mở rộng, khám phá kiến thức chuyên ngành ngoài nội dung học tập trên lớp; những phương pháp, kĩ năng học tập đòi hỏi năng lực tự học, tự làm việc và sự chủ động của sinh viên chưa được đánh giá cao. Các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở các trường đại học ngoài công lập phía Nam chưa phong phú, chỉ tập trung ở một số hình thức truyền thống (đánh giá chuyên cần, tự luận…); các hình thức kiểm tra, đánh giá đòi hỏi trình độ tư 11 duy ở mức độ cao hơn chưa được áp dụng phổ biến (vấn đáp; bài tập lớn, đồ án, tiểu luận…)”. Quản lý hoạt động học tập của sinh viên Toktarova (2015) trong bài viết “Quản lý giáo dục hoạt động học tập của sinh viên trong môi trường giáo dục điện tử của trường đại học: Một cách tiếp cận khác biệt” trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục quốc tế đã kết luận: “Quản lý giáo dục trong môi trường giáo dục điện tử của đại học đòi hỏi sự phát triển nâng cao, định hướng nghề nghiệp rõ ràng và bài giảng chi tiết. Mục tiêu là tạo môi trường học tập linh hoạt, đáp ứng đặc điểm và năng lực riêng của từng sinh viên, đảm bảo sự toàn diện và hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học.288] Noskova và các cộng sự (2020) qua nghiên cứu “Quản lý hoạt động của học sinh trong môi trường học tập số” tại trường Đại học Sư phạm bang Herzen của Nga đã chỉ ra: “Giảng viên cần học cách quản lý quá trình học tập và sự phát triển của sinh viên từ xa trong môi trường học tập kĩ thuật số với kho công cụ kĩ thuật số phong phú.
Để phát triển nhân cách người học, không chỉ chuyển giao kiến thức thông qua các nguồn tài nguyên số, mà còn liên quan đến việc phát triển các giá trị, niềm tin, các mối quan hệ, kết nối của người học. Cần phải học cách “nhìn” sinh viên trong môi trường học tập kĩ thuật số, đo lường và điều chỉnh hoạt động của sinh viên đó từ góc độ của các lĩnh vực kiến thức khác nhau - sư phạm, tâm lí học, khoa học máy tính và công nghệ kĩ thuật số. Điều này đòi hỏi tư duy chuyên môn mới của giảng viên, năng lực chuyên môn nâng cao, đặc biệt là năng lực giúp thiết kế môi trường học tập số, văn hóa số và kĩ năng số. Như vậy, một giảng viên hiện đại không chỉ thiết kế, sáng tạo nội dung thông tin, thực hiện tương tác 12 giáo dục trong môi trường học tập số mà còn xây dựng thành thạo hệ thống quản lý linh hoạt, cân bằng các hoạt động giáo dục của học sinh nhằm đạt được kết quả giáo dục, cá nhân và chuyên môn cao mà đáp ứng yêu cầu của xã hội kĩ thuật số.