phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập. Thực trạng quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi phí đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam.
8 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU I. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Cơ chế phát triển giáo dục đào tạo là sự tác động tổng hợp của tất cả các yếu tố, các chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, tạo nên khuôn khổ pháp lý và động lực cho sự phát triển giáo dục. Xét về phƣơng diện kinh tế và xã hội, đầu tƣ cho giáo dục đào tạo có cả ý nghĩa cá nhân và ý nghĩa xã hội. Đối với mỗi cá nhân đó là đầu tƣ cho nâng cao năng lực và kỹ năng lao động của bản thân; đối với nền kinh tế xã hội đó là sự đầu tƣ cho nguồn nhân lực, nguồn vốn con ngƣời của dân tộc.
Vì vậy, chi phí đầu tƣ cho giáo dục đƣợc cả Nhà nƣớc, xã hội, nhà trƣờng, mỗi gia đình và cá nhân quan tâm. Tuy nhiên, chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý CPĐT của các cơ sở GDĐH, mà chủ yếu là các công trình nghiên cứu chung về lĩnh vực tài chính giáo dục, hoặc chỉ mới đề cập đến một khía cạnh nào đó liên quan đến CPĐT đại học. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế, sự thay đổi chức năng của các chủ thể gắn liền với các vấn đề nhƣ chi phí giáo dục đào tạo, cấp tài chính cho giáo dục đào tạo, cơ chế quản lý và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo…. đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cơ chế phát triển giáo dục đào tạo, sản xuất và cung ứng hàng hóa dịch vụ giáo dục đào tạo.
Đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là đối với các cơ sở GDĐH. Lý thuyết về tài chính công đƣợc phát triển và chú ý ở Việt Nam trong thời gian gần đây, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trƣờng và có hội nhập sâu rộng với thế giới. Quản lý tài chính đối với GDĐH cũng là một bộ phận của nền tài chính công, chịu sự điều tiết, chi phối bởi những cơ chế, quy định chung của quản lý Nhà nƣớc nhƣng cũng có những đặc trƣng riêng biệt xuất phát từ vai trò và vị trí quan trọng của cơ sở giáo dục đại học trong xã hội. Đổi mới cơ chế hoạt động tài chính GDĐH là một nội dung quan trọng trong Chƣơng trình hành động của Chính phủ thực hiện Thông báo kết luận số 37- TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.
Đây là vấn đề thu hút và nhận 9 đƣợc sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong nƣớc. Các công trình khoa học trong lĩnh vực này khá phong phú với ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau tùy theo cách tiếp cận. Các bài báo, tạp chí bàn về vấn đề tài chính công và quản lý chi tiêu công cho lĩnh vực giáo dục đào tạo rất phong phú; đối tƣợng nghiên cứu khá rộng và nhiều giải pháp đƣợc đề xuất mang tính định hƣớng cho toàn bộ hệ thống. Trƣớc tiên phải kể đến các bài báo, nhƣ: “Tự chủ học phí gắn với đào tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường đại học công lập” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hƣơng đăng trên tạp chí đại học Quốc gia Hà Nội - Tập 27, Số 3-2011 [76], tác giả đã đƣa ra nhận định: việc thu học phí tƣơng xứng với trang trải CPĐT của các chƣơng trình đào tạo chất lƣợng cao sẽ góp phần tháo gỡ những khó khăn về tài chính cho các trƣờng đại học công lập khi thực hiện cung cấp dịch vụ đào tạo chất lƣợng cao đáp ứng nhu cầu xã hội; Bài báo “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Áng, Nguyễn Anh Tuấn và Phạm Thị Minh Thảo đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục - Số 36, tháng 9 năm 2008 [75] đã khẳng định sự cần thiết của việc xác định chi phí đào tạo đại học ở Việt Nam, đề xuất việc tính CPĐT cho một ngƣời học bằng cách cộng các khoản chi phí từng bộ phận tính cho từng đối tƣợng ngƣời học; Hay bài báo “Chi phí, lợi ích đầu tư cho giáo dục đại học Việt Nam và lộ trình cải cách học phí theo nhóm ngành” của tác giả Phùng Xuân Nhạ và Phạm Xuân Hoan đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế số 264, tháng 10-2012 [77].
Mặc dù đã đề cập tới mối quan hệ giữa mức thu học phí và trang trải chi phí, nhƣng tác giả (Nguyễn Thị Thu Hƣơng) chƣa đề xuất phƣơng thức quản lý phù hợp để trang trải chi phí đào tạo nhƣ thế nào cho hợp lý; hoặc mới chỉ đề cập đến sự cần thiết xác định chi phí đào tạo và mối liên quan của chi phí đào tạo với mức học phí, chƣa đề cập đến việc chi phí đào tạo đại học nhƣ thế nào là phù hợp và vấn đề tăng cƣờng quản lý chi phí đào tạo sẽ ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến hiệu quả quản lý tài chính tại các trƣờng đại học (Phùng Xuân Nhạ và Phạm Xuân Hoan); đồng thời cơ sở của việc xác định chi phí đào tạo (theo phƣơng án của nhóm tác giả Nguyễn Văn Áng và các cộng sự) đƣa ra ở đây chƣa phản ánh đầy đủ các yếu tố cấu thành chi phí đào tạo thực tế, và cũng chƣa đề cập tới vấn đề quản lý CPĐT. 10 Các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, khá toàn diện về tài chính các cơ sở GDĐH phải kể đến các luận án tiến sĩ. Đây cũng là nhóm công trình đồ sộ về số lƣợng và nghiên cứu khá toàn diện về các vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý tài chính nói chung, tài chính cho giáo dục nói riêng. Năm 2008, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Anh Thái với đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học ở Việt Nam” [73] đã tập trung phân tích nội dung cơ chế chính sách để quản lý tài chính đối với các trƣờng đại học nói chung, với các đề xuất: tạo nguồn tài chính đa dạng cho đào tạo, xây dựng cơ chế kiểm soát, chính sách học phí, học bổng, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý đối với các trƣờng đại học.
Tuy nhiên, tác giả không đi vào luận giải sâu sắc cách thức thực hiện, trong đó vấn đề mấu chốt để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính này là phải quản lý tốt CPĐT, để từ đó đƣa ra các quyết định đóng góp của ngƣời học phù hợp với tình hình đào tạo tại mỗi trƣờng chƣa đƣợc tác giả đề cập tới; Hay luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Thanh Thủy năm 2012 với đề tài “ uản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” [74] đã hệ thống hóa đƣợc cơ sở lý luận về quản lý tài chính, đƣa ra quan điểm mới về quản lý tài chính các trƣờng đại học công lập. Trong đó, đặt ra mục tiêu quản lý tài chính đối với các trƣờng đại học công lập là tăng thu, tiết kiệm chi, tăng tích lũy hƣớng đến bền vững tài chính gắn với chất lƣợng đầu ra. Luận án nhấn mạnh quản lý tài chính các trƣờng đại học công lập theo hƣớng tự chủ tài chính cần đƣợc chú trọng trong điều kiện hạn hẹp về NSNN. Luận án đã đề xuất khái niệm mới về tự chủ tài chính các trƣờng đại học công lập, trong đó nhấn mạnh tự chủ tài chính đối với các trƣờng đại học công lập nhằm mục tiêu cuối cùng là đảm bảo thu đủ bù đắp chi phí tƣơng ứng với chất lƣợng đào tạo, hƣớng tới bền vững tài chính.
Tuy nhiên luận án chƣa đề cập tới việc mức thu nhƣ thế nào là đủ bù đắp chi trong các cơ sở GDĐH, trong đó vấn đề mấu chốt là tăng cƣờng hiệu quả quản lý CPĐT để có cơ sở so sánh chi phí và hiệu quả quản lý giữa các cơ sở giáo dục; Năm 2012, tác giả Trần Đức Cân với luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam” [70] đã đề cập tới việc có ba nhân tố tác động tới cơ chế tự chủ tài chính của trƣờng đại học công lập, đó là: (1)Mục tiêu phát triển giáo dục đại học, chẳng hạn muốn tạo ra sự cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân 11 sách, giảm gánh nặng chi ngân sách cho giáo dục đại học, tăng sự minh bạch, trách nhiệm giải trình trƣớc xã hội… thì cần tăng quyền tự chủ cho các trƣờng; (2)Cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nƣớc nhƣ mô hình tài chính cho GDĐH công lập, hệ thống pháp luật đi kèm, năng lực quản lý của cơ quan chủ quản; (3)Cơ chế tài chính do mỗi trƣờng xây dựng thông qua qui chế chi tiêu nội bộ có đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả hay không…, nó phụ thuộc vào mô hình, năng lực quản lý của nhà trƣờng. Tác giả cũng đi vào phân tích cơ chế TCTC từ góc độ trƣờng đại học công lập. Nêu ra những thuận lợi, khó khăn, đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế tới việc tạo và sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính trƣớc xã hội, khả năng tự chủ tài chính của các trƣờng. Cụ thể là tác động tới cơ chế phân bổ ngân sách cho các trƣờng, mức thu học phí, khả năng tạo nguồn tài chính từ bên ngoài, qui mô, cơ cấu, sự đa dạng, hiệu quả sử dụng nguồn thu, vốn ngân sách cấp, qui định việc cung cấp thông tin tài chính cho các cơ quan liên quan, cho ngƣời học, đẩy mạnh xã hội hóa.
Tác giả cũng đề cập tới việc Nhà nƣớc cần đổi mới cơ chế TCTC nhƣ thế nào để thúc đẩy hoạt động tạo nguồn thu, nâng cao hiệu quả sử dụng, trách nhiệm giải trình tài chính của trƣờng đại học công lập, đối với các trƣờng đại học công lập để thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài chính cần điều kiện gì.