phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả kinh tế trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chƣơng 3: Thực trạng về chi phí và hiệu quả trong đào tạo theo niên chế và trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Giáo dục đại học ở Việt Nam. Chƣơng 4: Một số giải pháp nh m nâng cao hiệu quả kinh tế trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Giáo dục đại học ở Việt Nam.
9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Để thực hiện đề tài, tác giả Luận án đã tích cực tìm kiếm các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập đến ĐTTC ở nhiều khía cạnh, cùng những tài liệu nghiên cứu về việc đo lƣờng và đánh giá hiệu quả đào tạo, phân tích và tính toán chi phí đào tạo; phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của các chƣơng trình, dự án trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo. Trong chƣơng này, tác giả xin đƣợc trình bày tổng quan nghiên cứu dựa trên phân loại các vấn đề nghiên cứu; và trong khi trình bày mỗi vấn đề nghiên cứu, Luận án sẽ đề cập đến các tài liệu tiếng việt trƣớc sau đó mới đề cập đến tài liệu tiếng nƣớc ngoài. Các nghiên cứu về ƣu điểm (điểm mạnh, lợi thế) và những hạn chế (nhƣợc điểm) của đào tạo tín chỉ 1. Những ưu điểm (điểm mạnh, lợi thế) của ĐTTC Có thể nói r ng, một trong những lý do chính, có sức thuyết phục cao nhất thúc đ y Giáo dục đại học Việt Nam chuyển đổi từ ĐTNC sang ĐTTC là do ĐTTC có những ƣu điểm, lợi thế vƣợt trội, hơn hẳn so với ĐTNC.
Vì vậy, đây là chủ đề đƣợc quan tâm nghiên cứu, thảo luận và có nhiều ý kiến ủng hộ nhất. Lâm Quang Thiệp (2006), trong công trình Về việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam, đã trình bày ngắn gọn về hiệu quả đào tạo, tính mềm d o và khả năng thích ứng của ĐTTC; sau đó nêu bật ƣu điểm về giá thành đào tạo của ĐTTC nhƣ sau: Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên đƣợc tính theo học phần chứ không phải theo năm học; do đó việc thi hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình tiếp tục học, sinh viên không bị buộc phải quay lại 10 học từ đầu. Chính vì vậy, giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế.[25,2-3] Trong bài viết Nâng cao tính chủ động của sinh viên - giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng trong đào tạo theo học chế tín chỉ, cũng với lập luận nhƣ Lâm Quang Thiệp (2006), Đào Ngọc Cảnh và Huỳnh Văn Đà (2012) đƣa ra nhận định: Đào tạo theo tín chỉ có chi phí thấp hơn và hiệu quả cao hơn so với đào tạo theo niên chế. Hai tác giả này diễn giải Học chế tín chỉ cho phép sinh viên quyết định tiến độ đào tạo tùy khả năng và điều kiện của bản thân.
Vì vậy, sinh viên có thể học vƣợt tiến độ để rút ngắn thời gian đào tạo. Thông thƣờng thời gian đào tạo là 4 năm thì sinh viên có thể hoàn thành trong 3,5 năm ho c 3 năm. Việc rút ngắn thời gian đào tạo của sinh viên không chỉ tiết kiệm thời gian và chi phí cho bản thân và gia đình sinh viên mà còn tạo cho họ nhiều cơ hội về việc làm và tổ chức cuộc sống. Đồng thời, nhà trường và xã hội cũng giảm bớt được nhiều chi phí đào tạo và các chi phí khác nếu sinh viên rút ngắn thời gian đào tạo.[7,24] Trong một bài viết có nhan đề Một số vấn đề về đào tạo theo hệ thống tín chỉ, khi bàn về những ƣu thế của ĐTTC, Đào Ngọc Cảnh và Trịnh Duy Oánh (2012) khẳng định: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có chi phí thấp và hiệu quả cao hơn.
Đây là một tài liệu quý, đã đƣợc Bộ GĐDT tổ chức dịch ra tiếng việt vào năm 1994, và đƣợc giới nghiên cứu ở Việt Nam tham khảo, trích dẫn khá nhiều. Có thể nói r ng, đây là một công trình nghiên cứu đƣợc trình bày 11 rất có hệ thống và đầy đủ nhất về mọi khía cạnh của ĐTTC. Omporn Regel (1992) cho biết: Những lợi thế chủ yếu mà ĐTTC có đƣợc là do nó phân chia khối lƣợng kiến thức thành các đơn vị đo lƣờng đƣợc; khối lƣợng kiến thức này có thể đƣợc tích lũy để hƣớng tới một văn b ng thông qua nhiều cách kết hợp khác nhau, ở những thời gian và tại các địa điểm khác nhau. Lợi thế của ĐTTC thể hiện ở ba bình diện cơ bản: Hiệu quả học tập a) ĐTTC tạo ra một hồ sơ ghi chép luôn đƣợc cập nhật về tiến độ hƣớng tới văn b ng và kế hoạch cho toàn bộ quá trình học tập của sinh viên.
b) Bởi vì đ c trƣng của ĐTTC là các khóa học (chứ không phải là các kỳ thi), cho nên nó đảm bảo đƣợc sự độc lập đáng kể cho giảng viên trong việc xác định dạy những gì và dạy nhƣ thế nào. Khóa học kéo dài trong cả học kỳ cũng giúp sinh viên giảm bớt lo lắng về thi cử vì các khóa học kéo dài suốt học kỳ sẽ bao gồm ít tài liệu hơn các khóa học kéo dài một năm, vì vậy chúng tạo ra một quá trình đánh giá liên tục khiến sinh viên không thể biếng nhác trong học tập. c) Đối với các cơ sở đào tạo chấp nhận cấp văn b ng cho những kiến thức thu đƣợc ngoài nhà trƣờng, ĐTTC giúp cho sinh viên có thể học tập độc lập, và những kiến thức học đƣợc theo cách truyền thống có thể đƣợc miễn giảm ở một mức độ nào đó. Vì vậy, ĐTTC mở rộng đáng kể phạm vi của học tập của sinh viên.
d) Khi ĐTTC đƣợc kết hợp với quyền lựa chọn khóa học, nó cho phép nền giáo dục đại học trở nên hƣớng đến sinh viên và cá nhân hóa học tập nhiều hơn so với chƣơng trình giảng dạy cố định. Tính linh hoạt và khả năng thích ứng e) ĐTTC có thể cung cấp dịch vụ giáo dục đại học theo nhiều loại đơn vị b ng cách gán số lƣợng tín chỉ khác nhau cho các khóa học khác nhau (ví 12 dụ, có các khóa học theo năm, theo học kỳ, trong ba tuần ho c thậm chí chỉ trong một tuần), do đó nó loại bỏ đƣợc cách nghĩ không đúng đắn là mọi môn học đều quan trọng nhƣ nhau. f) ĐTTC tạo nên tính linh hoạt để sinh viên có thể xin đổi ngành học giữa quá trình học tập. Thay vì yêu cầu sinh viên phải học lại, ĐTTC sẽ tính toán số tín chỉ sinh viên đã tích lũy đƣợc để hƣớng tới văn b ng, và chỉ yêu cầu bổ sung những tín chỉ còn thiếu.
g) ĐTTC tạo nên sự đa dạng trong lịch học, vì việc học tập có thể đƣợc chia thành nhiều giai đoạn tƣơng ứng với số tín chỉ đƣợc ấn định. Đ c điểm này của ĐTTC tạo điều kiện cho các hoạt động diễn ra suốt năm của các cơ sở đào tạo, b ng cách cho phép học kỳ mùa h trở thành một phần của chƣơng trình đào tạo. Đợt học này thƣờng kéo dài khoảng 8 tuần, và lợi ích chủ yếu của nó là giúp sinh viên có thể thực tập ho c làm việc. h) ĐTTC tạo ra một cơ chế cho phép sinh viên làm việc hƣớng tới văn b ng với tiến độ của riêng mình, b ng cách học bán thời gian, xen kẽ thời gian làm việc và học tập, dừng học hay thôi học khi thấy phù hợp.
Do đó, ĐTTC có thể tích hợp việc học tập lấy văn b ng với việc học tập lâu dài ho c học lại. i) Trong ĐTTC, việc bắt đầu các khóa học mới có xu hƣớng dễ dàng hơn so với trong ĐTNC, do đó nó tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo nhanh chóng cải tiến chƣơng trình đào tạo theo nhu cầu mới của thị trƣờng giáo dục, có thể cân b ng nhu cầu của sinh viên, tránh đƣợc sự lãng phí nguồn lực, tức là có thể phân bổ nguồn lực nhiều hơn cho các ngành đang có nhu cầu cao và cắt giảm nguồn lực đối với các ngành có nhu cầu thấp. So với đào tạo truyền thống, bản chất linh hoạt của ĐTTC cũng tạo điều kiện cho việc cải cách chƣơng trình đào tạo. j) ĐTTC cho phép sinh viên chuyển từ trƣờng này sang trƣờng khác, từ ngành học này sang ngành học khác phù hợp với nguyện vọng của họ, tạo 13 điều kiện cho các cá nhân phát triển tối đa khả năng của mình.
Các tín chỉ tạo ra một ngôn ngữ chung cho các cơ sở đào tạo, vì thế nó cho phép chuyển đổi với một số thủ tục tối thiểu. k) ĐTTC cho phép các cơ sở đào tạo xây dựng các chƣơng trình học để lấy hai b ng cùng một lúc. Các chƣơng trình này cũng tạo cơ hội cho sinh viên có thể lấy văn b ng ở nƣớc ngoài, cả ở cấp đại học và sau đại học, mà không phát sinh thêm chi phí b ng cách giảm thời gian phải ra nƣớc ngoài để học. Sinh viên có thể hoàn thành phần đầu của văn b ng ở trong nƣớc và sau đó ra nƣớc ngoài để hoàn thành nốt phần còn lại, ho c ngƣợc lại.
Hiệu quả và chi phí quản lý l) Trong ĐTTC, kết quả học tập của sinh viên đƣợc đo trên cơ sở từng học phần. Thi trƣợt một học phần không ảnh hƣởng đến tiến độ học nói chung, và tiến độ học trong năm học, sinh viên không phải lƣu ban vì họ chỉ phải thi lại học phần đó ho c học thay b ng học phần khác. Nhƣ vậy, ĐTTC có hiệu quả hơn trong việc giảm chi phí đào tạo và giảm số sinh viên lƣu ban ho c bỏ học. m) Chƣơng trình học tập với yêu cầu tối thiểu dành cho mọi sinh viên, bao gồm những kiến thức trí tuệ, th m mỹ và triết học, giúp tạo nên một cá nhân toàn diện.
Về vấn đề này, các cơ sở đào tạo có thể cung cấp các chƣơng trình liên ngành, do đó tránh đƣợc sự trùng l p các khóa học bắt buộc trong tất cả các khoa và giảm chi phí.