CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Vào giữa thế kỷ XIX ở Pháp quá trình công nghiệp hóa phát triển rất nhanh, hệ thống nghề nghiệp trở nên đa dạng, cùng với xu hướng chuyên môn hóa sâu trong sản xuất đã tạo nên sự khác biệt so với các giai đoạn sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp trước đây. Người ta đã nhận thấy tính cấp thiết của việc hướng dẫn học sinh đi vào “thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng lực lượng lao động có hiệu quả hơn, từ đây đã xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” [44, tr.7] cho học sinh.
Năm 1883, ở Mỹ nhà tâm lý học Ganton Ph. đã cho ra đời công trình nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp, đã đề xuất sử dụng phương pháp trắc nghiệm (TEST) với mục đích giúp học sinh chọn nghề. Đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp. Đặc biệt vào năm 1908 Pason F.
giảng viên trường Đại học Tổng hợp Garvared (Mỹ) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Hướng nghiệp” và đã thành lập ở Boston Hội đồng nghề nghiệp giúp cho người lao động chọn được nghề phù hợp [63]. Năm 1897 ở Nga ra mắt cuốn sách về hướng nghiệp: “Lựa chọn khoa qua chương trình đại học tổng hợp” của Kpeev B. trong đó nêu rõ ý nghĩa của việc chọn nghề trước khi quyết định dự thi vào trường đại học. Trong những năm 1960 - 1970 ở Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michael Schumann, Gehart, Duismamn đã có những công trình nghiên cứu về: “phương thức tổ chức cho 6 học sinh phổ thông thực hành ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh dịch vụ” [64].
Cũng vào thời gian này ở Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Giáo dục, như: Heiz Frankiewiez, Bernd Rothe, Ulrich Viets, Germer B. đã có các công trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động dạy nghề cho HS. Các tác giả đưa ra phương thức: “phối hợp chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục KTTH và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực hành cho HSPT” [111, tr. 197], đã phân tích nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp cho học sinh.
Allan Walker người Australia trong công trình: “Một số vấn đề quản lý giáo dục ở Australia” đã nhận thấy: “ Nhà trường không chỉ là nơi dạy lý thuyết mà phải là nơi hình thành cho học sinh kỹ năng lao động” [109, tr. 53], tác giả đã trình bày vấn đề quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông cho học sinh dưới góc độ quản lý và tổ chức quá trình dạy học. Tác giả Magumi Nishino người Nhật Bản đã yêu cầu “ phải bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” [74, tr. Năm 1996 Jacques Delos Chủ tịch Uỷ ban Quốc tế về khoa học và giáo dục (UNESCO) đã khẳng định giáo dục thế kỷ XXI là: “ Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định” đó là bốn cột trụ của giáo dục, ông nhấn mạnh: “ Học sinh phổ thông cần phải chiếm lĩnh cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia hoạt động nghề nghiệp song song với việc học văn hóa, khoa học” [110].
Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước, GDHN cho học sinh phổ thông cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến các tác giả như: Phạm Tất Dong, Phạm Minh Hạc, 7 Nguyễn Văn Hộ, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Như Ất, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Đức Trí. Tác giả Phạm Minh Hạc trong các tác phẩm của mình đã phân tích tình hình giáo dục - đào tạo nước ta và phương hướng đổi mới giáo dục - đào tạo, đã xác định cần xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là “ Nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ” [45, tr. 36], trong đó chú ý: “Ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp” [46, tr. Tác giả Phạm Tất Dong đã có các công trình nghiên cứu như: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp; Hứng thú nghề nghiệp; Những vấn đề về nội dung, phương pháp hướng nghiệp cho học sinh, thanh niên… Tác giả Nguyễn Văn Hộ với công trình “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [53] đã xây dựng luận chứng phát triển hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh phổ thông.
Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền trong công trình: “Hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT” [55] đã đi sâu phân tích các cơ sở lý luận của GDHN, việc tổ chức các hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong nhà trường THPT và xây dựng hệ thống nguyên tắc, phương pháp và những hình thức giáo dục kỹ thuật trong trường THPT. Một hướng nghiên cứu khác do các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự cùng cộng sự thực hiện về: Động cơ chọn nghề; Hứng thú chọn nghề; Khả năng thích ứng nghề của học sinh học nghề; Tuổi trẻ và nghề nghiệp [1]; Đặc điểm tâm sinh lý người lao động của một số nghề dùng làm tài liệu hướng nghiệp cho học sinh các trường phổ thông. Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “GDHN vừa là một vấn đề cơ bản, vừa là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông”, “GDHN phải được 8 quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường. Đó không chỉ là nhiệm vụ của riêng nhà trường, của ngành giáo dục, mà là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và của toàn xã hội” [5, tr.
Tác giả Nguyễn Như Ất đã nghiên cứu: “Vấn đề phương pháp luận xây dựng nội dung GDHN trong trường phổ thông Việt Nam” [4], xác định lại cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có GDHN. Các tác giả Nguyễn Đức Trí và Nguyễn Quang Huỳnh đã đề cập một loạt vấn đề bức xúc của GDHN, vấn đề phân luồng học sinh phổ thông sau trung học, sự cần thiết phải có GDHN, cơ sở tâm lý học của GDHN. Các tác giả đã nêu bật vai trò của GDHN với chức năng định hướng vào việc rèn luyện năng lực thực hiện cho người lao động [1], [2], [94]. Các tác giả Hà Thế Truyền, Nguyễn Văn Lê, Bùi Văn Quân đã nghiên cứu sâu và trên bình diện rộng vào nội dung: ”Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn học cơ bản ở trường phổ thông” trong Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX05 - Đề tài KX - 05 -09.
Theo đó, các tác giả đã khẳng định: “Biết quán triệt tinh thần hướng nghiệp trong các môn học thì chất lượng giảng dạy và học tập sẽ được nâng cao” [71]. Công trình “GDHN ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã đi sâu nghiên cứu về việc cần thiết phải đổi mới GDHN trong trường phổ thông và đã nhấn mạnh: “GDHN là quá trình dạy học có chủ đích, phục vụ mục tiêu làm thay đổi một cách lâu bền vị thế của người học để họ có thể hoàn thành các yêu cầu nghề nghiệp”. [21] Tóm lại, trên thế giới và trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDHN cho HS, dưới các hình thức và cách gọi khác nhau các công trình nghiên cứu đều nhằm chuẩn bị cho học sinh trung học chọn nghề để dễ dàng hòa nhập với cuộc sống lao động trong tương lai. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về GDHN cho học sinh theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay.
Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Nghề nghiệp Theo từ điển tiếng Việt, nghề nghiệp là:“công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động của xã hội” [95]. Theo ngôn ngữ chung, nghề nghiệp được hình thành bởi hai từ ghép: nghề và nghiệp. Nghề là khái niệm nói về các dạng (loại, kiểu, hình thức) lao động, bằng kiến thức và kỹ năng đặc trưng, người lao động có thể làm ra các loại sản phẩm tương ứng, để phục vụ cho cuộc sống cá nhân và nhu cầu tiêu dùng xã hội.
Nghiệp là khái niệm nói về sự nghiệp, là nền tảng của cuộc sống, đảm bảo cho sự thành đạt, hạnh phúc của mỗi cá nhân. Nghề luôn gắn với nghiệp, nên được gọi là nghề nghiệp. Người lao động có nghề nghiệp là người đã được đào tạo chu đáo về chuyên môn, nghiệp vụ, có việc làm và làm tốt các công việc được phân công. Nghề xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động, xã hội phát triển nghề cũng luôn ở trong trạng thái biến động.
Xã hội càng phát triển nhiều nghề cũ mất đi, nhiều nghề mới xuất hiện, trong xã hội hiện đại nghề nghiệp rất đa dạng, các mức độ chuyên sâu và tính kỹ thuật ngày càng cao.: “ Nghề nghiệp là lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội. Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để tạo ra sản phẩm cần thiết cho việc tồn tại và phát triển cá nhân và xã hội” [63]. Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu: nghề nghiệp là một dạng lao động xã hội, nhờ được đào tạo, người lao động có kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ tích cực với nghề, có thể tạo ra (sản xuất) các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần tương ứng, nhằm đáp ứng các nhu cầu của bản thân và xã hội. Hướng nghiệp Thuật ngữ “Hướng nghiệp - Profession Orientation” do Parson F.
đề xướng vào năm 1908, theo đó ông cho rằng hướng nghiệp là: “quá trình định 10 hướng cho cá nhân tìm hiểu nghề, đối chiếu với phẩm chất cá nhân, rồi lựa chọn lấy một nghề phù hợp” [54].