MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài GDHN cho HSPT nói chung, cho HS THCS nói riêng là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, được quy định rõ ràng trong các điều khoản của Luật giáo dục Việt Nam 2005, cụ thể là: - Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. (Điều 27 Luật giáo dục 2005) - Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho HS có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp.
(Điều 28 Luật giáo dục 2005) GDHN là một bộ phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện đã được xác định trong Luật Giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường GDHN nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc PLHS, chuẩn bị cho HS đi vào cuộc sống lao động hoặc được tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội. Đối với HS lớp 9, việc chọn trường, chọn hướng học tiếp THPT hay chuyển sang loại hình đào tạo khác là một quyết định quan trọng ảnh hưởng đến tương lai. Đối với các bậc phụ huynh, việc chọn trường gần nhà, trường phù hợp với sức học của HS, cơ hội nghề nghiệp trong tương lai,… rất được quan tâm.
1 Luan van HĐHN hiện nay chưa được các cấp quản lý giáo dục và các trường quan tâm đúng mức, còn nhiều địa phương và trường học chưa thực hiện đầy đủ các nội dung GDHN; chất lượng HĐHN chưa đáp ứng được yêu cầu của HS và xã hội, HSPT cuối các cấp học và bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội. Ban giám hiệu các trường chỉ đẩy mạnh về tư vấn nguyện vọng, chọn trường THPT công lập, mà thiếu sự tư vấn thêm về loại hình GDTX, TCCN và trường nghề. Đặc biệt, trong khâu làm công tác tâm lý và phân tích những yếu tố giúp phụ huynh, HS chọn trường, chọn hướng đi phù hợp chưa được chú trọng. Hệ quả của việc xem nhẹ TVHN, PLHS sau THCS là tình trạng bỏ học, thừa thầy nhưng thiếu thợ lành nghề.
Kết quả tuyển sinh những năm gần đây cho thấy, có nhiều HS dù thi điểm cao, nhưng do không biết cách chọn trường đã không trúng tuyển, hoặc có nhiều HS cố sức để theo lớp 10, nhưng nửa đường bỏ học vì không theo kịp chương trình. Nếu những đối tượng này được TVHN kịp thời sẽ chọn được một hướng đi phù hợp với bản thân, tiết kiệm được thời gian và công sức, tránh lãng phí trong giáo dục. Bình Chánh là huyện ngoại thành của TPHCM với nhiều khu công nghiệp lớn có nhu cầu cao về nguồn lao động có chất lượng, được đào tạo lành nghề như khu công nghiệp Lê Minh Xuân, khu công nghiệp Vĩnh Lộc. Trong huyện có 17 trường THCS với số lượng HS lớp 9 gần 3400HS.
Người dân địa phương chủ yếu là lao động nông nghiệp, chưa ý thức được đầy đủ vai trò quan trọng của việc học cũng như chưa có đủ kiến thức để giúp HS lựa chọn hướng đi đúng đắn trong tương lai. Một bộ phận dân số trong huyện là dân nhập cư, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên việc học tập của thanh thiếu niên chưa được đảm bảo, một số phải bỏ học giữa chừng. Nếu được GDHN kịp thời, thực hiện tốt việc PLHS, chuyển các HS này sang đào tạo nghề để giúp rút ngắn thời gian học, giải quyết khó khăn về kinh tế, tránh lãng phí trong giáo dục, giúp thanh thiếu niên có được việc làm phù hợp với năng lực và sở thích, tự tin trong cuộc sống, đảm bảo nguồn lực cho sự phát triển kinh tế địa phương. 2 Luan van Với những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp hướng nghiệp học sinh trung học cơ sở tại huyện Bình Chánh Thành Phố Hồ Chí Minh” nhằm góp phần khắc phục những hạn chế của HĐHN HS THCS; góp phần vào việc định hướng nghề nghiệp, thực hiện tốt việc PLHS sau THCS.
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu Đề tài được thực hiện với mục tiêu là khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hướng nghiệp HS THCS tại huyện Bình Chánh TPHCM. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hướng nghiệp HS THCS. - Khảo sát thực trạng hướng nghiệp của các trường THCS huyện Bình Chánh, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất giải pháp hướng nghiệp cho HS các trường THCS huyện Bình Chánh. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu CBQL, GV CMHS, HS tại các trường THCS tại huyện Bình Chánh TPHCM. Đối tƣợng nghiên cứu Thực trạng và giải pháp hướng nghiệp HS THCS tại huyện Bình Chánh TPHCM.
Giả thuyết nghiên cứu Nếu đánh giá đúng thực trạng, đề xuất các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng hướng nghiệp HS THCS thì việc PLHS sau THCS sẽ phù hợp với năng lực và sở thích của HS. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được tiến hành nghiên cứu về HĐHN cho HS THCS tại 3/17 trường THCS trên địa bàn huyện Bình Chánh TPHCM, đặc biệt quan tâm đến công tác TVHN và PLHS sau THCS. Phƣơng pháp nghiên cứu 6. Phƣơng pháp tham khảo tài liệu Nghiên cứu các tài liệu, sách báo, các văn bản, báo cáo tổng kết của Sở GD&ĐT TPHCM, Phòng GD&ĐT huyện Bình Chánh, báo cáo tổng kết năm học của các trường THCS trên địa bàn huyện, báo cáo định hướng phát triển KT-XH của huyện, hồ sơ giảng dạy của GV, Ban giám hiệu,… từ đó, hệ thống hóa cơ sở lý luận, các bảng số liệu phục vụ công tác nghiên cứu.
Phƣơng pháp phỏng vấn Trao đổi, nói chuyện với các đồng nghiệp, nhất là các CBQL, GV để nắm bắt thông tin liên quan đến đề tài. Phƣơng pháp điều tra bằng phiếu Dùng phiếu hỏi, phân tích, so sánh đối chiếu kết quả khảo sát để tìm ra những thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu luận văn. Phƣơng pháp xử lý thống kê Sử dụng các phép toán thống kê trong nghiên cứu. Phƣơng pháp chuyên gia Sử dụng phiếu hỏi các CBQL, GV dạy hướng nghiệp, GV công nghệ, GVCN,… để đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp.
Những đóng góp khoa học của luận văn 7. Về mặt lý luận Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HĐHN; góp phần làm phong phú hơn cơ sở lý luận về CTHN nói chung và CTHN cho HS THCS huyện Bình Chánh nói riêng. Về mặt thực tiễn Đề xuất giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả CTHN; góp phần định hướng nghề nghiệp của HS sau tốt nghiệp THCS, định hướng PLHS theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của địa phương. 4 Luan van PHẦN B: NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HƢỚNG NGHIỆP HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Lịch sử về hoạt động hƣớng nghiệp 1. Trên thế giới Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, CTHN rất được coi trọng và được bắt đầu ngay từ những năm đầu của cấp trung học: Cấp THCS: - Dự nghiệp: Giới thiệu tổng quan các ngành nghề thông dụng để giúp các HS phát hiện sơ bộ xu hướng nghề nghiệp của mình. - Hướng nghiệp: Cho các HS được học thử các nghề được phát hiện ở giai đoạn dự nghiệp để củng cố hoặc điều chỉnh xu hướng nghề nghiệp chính xác hơn. Cấp THPT: - Huấn nghiệp: Theo kết quả ở giai đoạn hướng nghiệp, nhà trường sẽ chính thức đào tạo nghề theo đúng xu hướng nghề nghiệp của HS, giúp HS đủ sức vào đời ngay sau khi tốt nghiệp trung học hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tiếp lên.
Ở Đan mạch: Định hướng về GD&ĐT, nghề nghiệp và thị trường lao động là chủ đề bắt buộc trong giáo dục phổ thông ở Đan Mạch, thường được tích hợp với môn Tiếng Đan Mạch hay Giáo dục công dân. Mục đích nhằm giúp HS: - Phát triển năng lực chuyện môn, xã hội và cá nhân. - Đưa ra những lựa chọn đúng đắn. - Hiểu được giá trị của việc học tập.
- Có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan tới giáo dục, đào tạo, nghề nghiệp và thị trường lao động. 5 Luan van Mục tiêu: HS phải nắm được những kiến thức chung về cơ hội giáo dục và nghề nghiệp, hiểu được giá trị của việc hoàn thành một chương trình giáo dục hay đào tạo. Lập ra các Trung tâm dịch vụ làm công việc tư vấn cho thanh niên, HS với nhiều hình thức.28] Ở Vƣơng quốc Anh: Bộ luật giáo dục năm 1997 quy định tất cả các trường phổ thông phải giảng dạy chương trình hướng nghiệp và tư vấn GDHN. Ở hầu hết các trường học, chương trình này được giảng dạy ở cuối bậc học.
GVCN chịu trách nhiệm chính về GDHN và TVHN. Nhà trường có trách nhiệm liên kết với các nhà tư vấn thuộc các văn phòng dịch vụ nghề nghiệp thực hiện chức năng cung cấp: - Các thông tin chung về cơ hội giáo dục và nghề nghiệp. - Thông tin về thị trường lao động. - Tư vấn cho HS.
- Hỗ trợ người sử dụng lao động. Năm 1999, chính phủ đưa ra sáng kiến gọi là sự kết nối với nội dung: - Tư vấn cá nhân cho từng HS. - Sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn nghề nghiệp. - Các hiệp hội và đơn vị cung cấp dịch vụ giáo dục và tư vấn nghề nghiệp dưới hình thức ký hợp đồng cho một khu vực địa lý nhất định.