Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung học cơ sở Kiểm định chất lượng giáo dục đã được hình thành và phát triển từ lâu. Hiện nay, hoạt động này ngày càng phổ biến và trở thành một xu hướng toàn cầu trong giáo dục bởi nó là một công cụ hiệu quả giúp các trường kiểm soát và đảm bảo chất lượng đào tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các cơ sở giáo dục. Do đó, hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trong lịch sử, kiểm định chất lượng được coi là xuất phát từ Mỹ vào cuối thế kỷ XIX, phát triển như một phần của tiến trình phát triển hệ thống giáo dục đại học và có sức lan tỏa mạnh mẽ ra khắp thế giới như một công cụ đảm bảo chất lượng giáo dục (Alexandra Hegji, 2017 [67]), tác giả Đỗ Thị Ngọc Quyên (2017). Hầu hết các quốc gia bắt đầu triển khai kiểm định chất lượng giáo dục từ giữa thập niên 1990, bao gồm: các nước khu vực Đông Âu như Albania, Bulgaria, Hungary và Romania; các nước có nền giáo dục phát triển ở châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Đức; các nước Mỹ Latin và vùng Vịnh như Oman, Kuwait, Qatar, Arab Saudi, Chile; các nước châu Á - Thái Bình Dương như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Brunei, Lào và Campuchia. Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á đã phát triển hệ thống kiểm định chất lượng SEAN University Network (Mạng lưới Các trường đại học khu vực Đông Nam Á - AUN-QA) dành cho các trường đại học trong khu vực. Ở khu vực châu Phi, Kenya và Nam Phi cũng đã triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục [52].
Theo định nghĩa của Hội đồng Kiểm định Giáo dục Đại học Hoa Kỳ (Council for Higher Education Accreditation - CHEA) (2003), kiểm định là một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát, đánh giá các cơ sở giáo dục và các chương trình đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng [73]. Theo đó, ở Hoa Kỳ, kiểm định được thực hiện bởi các tổ chức tư nhân, phi lợi nhuận được thành lập cho mục đích kiểm định. Các tổ chức và các chương luan an 16 trình đào tạo triển khai kiểm định như một phương tiện để chứng minh chất lượng đào tạo của họ với sinh viên và công chúng và để đáp ứng đủ điều kiện đối với các quỹ liên bang. Do đó, kiểm định phục vụ mục đích đảm bảo chất lượng học tập cho sinh viên và công chúng, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận các quỹ liên bang để vay vốn và các loại quỹ hỗ trợ khác, dễ dàng chuyển giao các khóa học và chương trình giữa các trường cao đẳng và đại học cũng như đáp ứng niềm tin của người sử dụng lao động.
Tương tự, Hội đồng các Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (South East Asian Ministers of Education Organization - SEAMEO) (2012) xác định, kiểm định chất lượng là quá trình đánh giá của bên ngoài về chất lượng và hiệu lực của các yếu tố/quá trình (của hệ thống quản lý) trong việc thực hiện sứ mệnh, mục tiêu của nhà trường; so sánh nhà trường với các chuẩn mực chất lượng chung (của khu vực và thế giới) để công nhận về chất lượng giáo dục, được công bố công khai để xã hội biết và giám sát [109]. Trải qua quá trình phát triển, với những ưu thế nhất định, kiểm định chất lượng đã được các bậc giáo dục khác ngoài đại học sử dụng để kiểm định các chương trình giáo dục cũng như các cơ sở giáo dục. Theo đó, khái niệm kiểm định chất lượng đã được mở rộng hơn. Basso (2003) cho rằng, kiểm định là một quy trình được sử dụng bởi các trường công lập và tư thục để đánh giá hiệu quả giáo dục theo quy định.
Mặc dù kiểm định được xem xét như một chỉ số chất lượng cho trường học, nhưng mục tiêu chính của quy trình kiểm định là cải tiến trường học liên tục [69]. Tương tự, Vlãsceanu và cộng sự (2007) cho rằng, kiểm định chất lượng là quá trình mà một tổ chức chính phủ hoặc tư nhân đánh giá chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo dục hoặc của một chương trình giáo dục cụ thể nhằm chính thức công nhận cơ sở hoặc chương trình đã đáp ứng các tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu nào đó do tổ chức đánh giá đặt ra [115]. Đồng quan điểm, Hala A. Sabri (2006) nhấn mạnh, kiểm định liên quan đến một quá trình đánh giá và xem xét cho phép khóa học hoặc cơ sở đào tạo giáo dục được công nhận hoặc chứng nhận đáp ứng các tiêu chuẩn quy định.
Trên bình diện quốc tế, kiểm định thường là một trong những bộ phận chính của đảm bảo chất lượng, trong đó đề cập đến các quy trình xem xét, đánh giá và giám sát đang diễn ra áp dụng cho tất cả các nhà cung cấp giáo dục luan an 17 được công nhận để đảm bảo rằng các khóa học và chương trình đạt tiêu chuẩn cao và sự giám sát của tổ chức là có hiệu quả. Kiểm định giữ vai trò quan trọng đối với người học, người sử dụng lao động, chính phủ và công chúng trong việc xác định chương trình giáo dục và đào tạo đạt chất lượng [82]. Kiểm định chất lượng là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất của đảm bảo chất lượng bên ngoài, bởi nó đảm bảo mức độ chất lượng cụ thể theo sứ mệnh của tổ chức, các mục tiêu của các chương trình và kỳ vọng của các bên liên quan khác nhau, bao gồm cả người học và người sử dụng lao động. Quá trình này thường dẫn đến sự công nhận trong một khoảng thời gian giới hạn.
Theo Michaela Martin và Bikas C. Sanyal (2007), các nguyên nhân sau đây đã khiến cho kiểm định chất lượng giáo dục ngày nay trở nên đặc biệt quan trọng: Thứ nhất, khi các nhà cung cấp giáo dục ngày càng đa dạng, nhu cầu về giáo dục được chứng nhận càng gia tăng. Không chỉ người học và gia đình của họ, mà còn cả thị trường lao động ngày càng tìm cách phân biệt giữa các nhà cung cấp giáo dục, do đó một chứng nhận chất lượng sẽ đáp ứng được nhu cầu này. Thứ hai, các mối đe dọa đối với chất lượng có thể đến từ các nguồn khác nhau, bao gồm các nhà cung cấp gian lận.
Do đó, bằng cấp được trao bởi một tổ chức phải đi kèm với một sự đảm bảo. Kiểm định là một cách cung cấp sự đảm bảo đó. Thứ ba, số lượng các nhà cung cấp giáo dục và nhà cung cấp các tài liệu gian lận ngày càng tăng cũng thúc đẩy nhu cầu về một cơ quan có thể kiểm định các tổ chức này để duy trì các tiêu chuẩn cần thiết đáp ứng điều kiện tốt nghiệp để từ đó người học được nhận vào các tổ chức chuyên môn cao hơn hoặc chuyên ngành hơn trong thực tiễn nghề nghiệp của thị trường việc làm ngày nay. Thứ tư, các tổ chức giáo dục đang phải đối mặt với một thế giới cạnh tranh hơn bao giờ hết.
Họ có hứng thú trong việc thu hút những sinh viên giỏi nhất và chuyển đổi văn bằng, chứng nhận của họ thành một loại tiền tệ có thể chuyển đổi (bao gồm thông qua các cơ chế chuyển đổi tín dụng). Họ cũng có tiềm năng trở thành các tổ chức học tập với chất lượng ngày càng hoàn thiện. Do đó, đóng vai trò: (1) Kiểm soát chất lượng (các tiêu chuẩn tối thiểu) trong giáo dục; (2) Trách nhiệm và minh bạch; (3) Nâng cao chất lượng; và (4) Tạo điều kiện cho sự dịch chuyển của người học [96]. Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, trong khi bằng cấp hoặc chứng chỉ từ một trường được công nhận phù hợp có thể mang lại khoản đầu tư hoàn vốn đặc biệt, thì việc chứng nhận từ một trường không được công nhận có thể là một sự lãng phí rất lớn luan an 18 cả về tiền bạc và thời gian.
Đó là một phần khiến cho việc kiểm định cơ sở đào tạo và chương trình cấp bằng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tại Hoa Kỳ, công nhận là một quá trình đánh giá tự nguyện, phi chính phủ. Nói cách khác, các trường không phải được công nhận để mở cửa hoặc cung cấp chương trình giáo dục. Theo Bộ Lao động Hoa Kỳ, mục tiêu của kiểm định là để đảm bảo rằng các tổ chức giáo dục đáp ứng mức độ chất lượng chấp nhận được.
Mục tiêu này được thực hiện bằng cách công nhận các cơ quan kiểm tra cá nhân các trường học và chương trình để đảm bảo tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu được đáp ứng. Mặc dù, các cơ quan kiểm định khác nhau về quy mô và phạm vi, họ chia sẻ mục tiêu chung là đảm bảo tất cả các tổ chức giáo dục theo cùng tiêu chuẩn chất lượng hàng năm. Trong khi một số trường học và chương trình được công nhận trong khu vực, những trường khác được cung cấp công nhận bởi một cơ quan kiểm định quốc gia. Ngoài ra, các trường khác có thể được công nhận bởi các cơ quan kiểm định chuyên ngành tập trung vào các ngành hoặc loại chương trình giáo dục cụ thể.
Nhìn chung, các bước trong quy trình kiểm định bao gồm: (1) Chuẩn bị và tự kiểm tra: Các trường chuẩn bị các tài liệu (báo cáo bằng văn bản) thể hiện kết quả thành tích của tổ chức, đảm bảo làm nổi bật những thành tựu cụ thể giúp tổ chức đáp ứng các tiêu chuẩn của cơ quan kiểm định và chứng nhận; (2) Đánh giá đồng cấp: Sau khi nộp giấy tờ chính thức, các đồng nghiệp hành chính và giảng viên tiến hành đánh giá chuyên sâu các tài liệu đã chuẩn bị, báo cáo bằng văn bản và các hoạt động chung của trường; (3) Tham quan và kiểm tra: Sau khi đánh giá đồng nghiệp đã được hoàn thành, hầu hết các tổ chức kiểm định cử một nhóm chuyên gia đến thăm trường. Đội ngũ này thường gồm các đồng nghiệp và các thành viên của cộng đồng tình nguyện dành thời gian của họ để đảm bảo các tiêu chuẩn giáo dục chất lượng giáo dục được đáp ứng. (4) Đưa ra quyết định: Sau khi các bước trước được hoàn thành, tổ chức kiểm định yêu cầu ủy ban của họ xem xét thông tin thu thập được và xác nhận hoặc từ chối tình trạng công nhận cho nhà trường.