CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, một số nước trên thế giới đã UDCNTT như là một động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH. Cùng với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược UDCNTT mà một bộ phận quan trọng của chiến lược này là đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường.
Theo một số tài liệu nghiên cứu, trong giai đoạn hiện nay các nước đều khẳng định vai trò mũi nhọn, có tính đột phá của CNTT trong GD&ĐT nói chung và trong QL dạy và học nói riêng. Tác giả Christ Abbott đã nói rằng: “ICT is changing the face of education - CNTT và truyền thông đang thay đổi bộ mặt của Giáo dục” [76,tr. Theo Saverius Kaka, hiệu trưởng trường SMA Tarsissius: Các nhà quản lý giáo dục cần phải khôn ngoan trong việc thực hiện các chiến lược để ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy và học tập. Ông cho rằng: “Ngày nay CNTT đã và đang phát triển rất nhanh chóng; vì thế toàn bộ hệ thống giáo dục cần được cải cách và CNTT nên được tích hợp vào các hoạt động giáo dục” [83,tr.
Tác giả David Mousund, thuộc bộ phận quản lý và chính sách đào tạo trường đại học Oregon Australia, khi nghiên cứu về thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục, đã đưa ra nhận xét: “Lĩnh vực CNTT đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại” [75]. Điều đó có nghĩa là một trong những trở ngại lớn của việc ứng dụng CNTT là kiến thức về CNTT của các nhà quản lý giáo dục thường đi sau sự phát triển. Thêm vào đó John Mcbeath and Kate Myer cũng khẳng định: “Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng CNTT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm” [80, tr. Đây có thể coi là hệ quả của chính sự ngần ngại của các nhà lãnh đạo khi ứng dụng CNTT.
18 Đặc biệt, ứng dụng CNTT trong dạy học ngoại ngữ cũng là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm tới. Trong bài viết có tiêu đề: “CNTT và sự thay đổi giảng dạy tiếng Anh”, tác giả Huw Jarvis – thành viên trung tâm nghiên cứu ĐH Stanford, cho rằng: máy tính có vai trò to lớn trong việc phân tích và thực hành ngôn ngữ; và Internet là một công cụ có tiềm năng rất lớn trong các lớp học tiếng Anh, nhưng hiệu quả trong thực tế phụ thuộc vào cách khai thác của giáo viên và học sinh. Một công trình nghiên cứu được nhiều người biết đến là của James.Clauson trường đại học Virginia xuất bản năm 2004. Ông đã đưa ra một hệ thống các biện pháp QLGD nói chung và QL việc dạy và học ngoại ngữ nói riêng, trong đó nhấn mạnh đến khâu dạy học ngoại ngữ bằng phương pháp trực quan.
Theo ông: “Bản thân ngoại ngữ là rất phong phú, thú vị vì nó cung cấp cho ta những hiểu biết về con người, văn hóa, địa lý, chính trị. của một dân tộc. Ngoại ngữ không hề khô cứng, nó khô cứng do chính cái cách mà người dạy truyền tải nó” [79, tr 2]. Hai tác giả Marjolein Drent, Martina Meelissen University of Twente, P.
Box 217, 7500 AE Enschede, The Netherlands đã có đề tài: Which factors obstruct or stimulate teacher educators to use ICT innovatively [82] (Những nhân tố cản trở hoặc kích thích giảng viên sử dụng CNTT sáng tạo). Đề tài này bàn về các yếu tố kích thích hoặc hạn chế việc sử dụng sáng tạo CNTT của các nhà làm công tác giáo dục (QLGD, giáo viên) tại Hà Lan. Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục còn gặp phải những trở ngại, trong đó có những trở ngại liên quan tới năng lực QL. Tác giả David Mousund, thuộc bộ phận QL và chính sách đào tạo trường đại học Oregon Australia, khi nghiên cứu về thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trong giáo dục, đã đưa ra nhận xét: “Lĩnh vực CNTT đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượt quá khả năng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại” [75].
Điều đó có nghĩa là một trong những trở ngại lớn của việc UDCNTT là kiến thức về CNTT của các nhà QLGD thường đi sau sự phát triển. Thêm vào đó, John Mcbeath and Kate Myer cũng khẳng định: “Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng CNTT trong giáo dục tuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm” [80, tr. Đây có thể coi là hệ quả của chính sự ngần 19 ngại của các nhà lãnh đạo khi ứng dụng CNTT. Xã hội thông tin đã tạo ra những cơ hội mới, nhưng cũng đặt ra những thách thức, yêu cầu mới đối với CBQL và GV.
Nếu CBQL và GV đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu mới thì vị thế của CBQL và GV được nâng cao hơn. Everard Geofrey Morris Ian Wilson trong bài “Quản lý sự thay đổi” đã viết “Bước đột phá chính trong việc nâng cao năng lực của các nhà QL để QL sự thay đổi bắt nguồn từ các lý thuyết và cách tiếp cận của khoa học hành vi được gọi là “phát triển tổ chức”, viết tắt “OD – Organization Development” [78,tr. Một trong những yêu cầu mới, đó là CBQL và GV phải biết ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động QL và dạy học. Trong dạy học, GV sẽ là người hướng dẫn, định hướng, tổ chức việc thu thập và xử lý thông tin của HS.
Do đó, ngoài trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, GV còn phải có kiến thức và kỹ năng về CNTT để sử dụng trong quá trình dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học. Trong QL, người CBQL phải có kiến thức và kỹ năng về CNTT để ứng dụng trong việc thực hiện các nhiệm vụ QL, giúp quá trình QL đạt được mục tiêu đã đặt ra. Hai tác giả Jon Wiles và Joseph Bondi ở Florida – Hoa Kỳ đã đưa ra những nhận xét trong cuốn sách “Curriculum Development A Guide to Practice” (Xây dựng chương trình học, Hướng dẫn thực hành, bản dịch của tác giả Nguyễn Kim Dung, ĐH. Hồ Chí Minh) [81]: Đối lập hoàn toàn với kỷ nguyên phát triển chương trình học và giảng dạy truyền thống là thời đại của công nghệ mới trong đó các quy tắc đều thay đổi.
Không còn nữa một chương trình học hoàn toàn trong các quy định của nó, cũng không còn các giáo viên phụ thuộc vào cách chuyển tải giảng dạy của mình. Thêm vào đó, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cũng thay đổi. Giáo viên không còn là điểm tiếp cận kiến thức được yêu cầu. Đối lập với “cách cũ”, học sinh bây giờ có nhiều cách tiếp cận không hạn chế (7 ngày 1 tuần và 24 giờ trong 1 ngày) với nguồn thông tin toàn cầu… Công cụ khám phá đã làm cho Internet trở thành một công cụ tuyệt diệu cho học tập.
Ở “tốc độ cao không tưởng” người học có thể tiếp cận với hầu hết bất cứ nguồn thông tin nào trên thế giới. Tác giả Andrew Jones thuộc British Educational Communications and 20 Technology Agency (Beca), có đề tài: A Review Of The Research Literature On Barriers To The Uptake Of ICT By Teachers [74] (Một đánh giá về tổng quan nghiên cứu vào các rào cản về sự tiếp thu CNTT của giáo viên). Đề tài này tập hợp các bằng chứng từ nhiều nguồn về những rào cản thực tế và nhận thức của các giáo viên ảnh hưởng đến việc UDCNTT. Các rào cản chủ yếu là: Sự thiếu tự tin và lo lắng của giáo viên về máy tính; Thiếu năng lực về CNTT; Thiếu thời gian; Thiếu phương pháp sư phạm trong việc UDCNTT; Thiếu kỹ năng; Thiếu nguồn lực về CNTT; Công tác QL, tổ chức yếu kém; Chưa có phần mềm phù hợp; Không có điều kiện truy cập Internet riêng ở nhà… Theo các báo cáo của UNESCO, hầu hết các nước đều đưa các kiến thức tin học, kỹ năng cơ bản của CNTT vào giảng dạy ở trường phổ thông.
Về mục tiêu: Trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng CNTT cần thiết để ứng dụng trong học tập các môn học khác. Về hình thức dạy Tin học: Tùy theo điều kiện các nước lựa chọn các hình thức cụ thể như sau: - Ở Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và một số địa phương của Pháp: Tin học là môn học riêng biệt, nhưng thực hiện theo hình thức tự chọn; - Ở nhiều bang của Hoa Kỳ và Úc: Tin học là một môn học riêng biệt và là môn học bắt buộc, tương tự như những môn học khác; - Ở một số nơi của Pháp và một số bang của Hoa Kỳ: Tin học được tích hợp vào trong các môn học khác; - Một số nước khác: Tin học được đưa vào như những hoạt động ngoại khóa. Về chương trình: các nước đều xây dựng theo 3 mức độ: Giáo dục phổ thông mức cơ sở; Giáo dục phổ thông ở mức nâng cao; Giáo dục nghề ở mức nâng cao. Chương trình thường được chia thành các Module, trong đó có Module thực hiện mang tính bắt buộc, nhưng cũng có những Module để các trường được tự do chọn lựa.
Xu hướng chung của các nước trên thế giới là: Tin học, ứng dụng CNTT đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm đưa vào trong các trường học và đã 21 trở nên một vấn đề mang tính toàn cầu. Hội nghị Bộ trưởng giáo dục các nước thành viên của tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế các nước Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 2 ngày 07 tháng 4 năm 2000 về "Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI" xác nhận tầm quan trọng của CNTT trong xã hội học tập. Tại diễn đàn này các Bộ trưởng đã khẳng định tiềm năng rộng lớn của CNTT trong việc chuẩn bị tương lai cho học sinh, cũng như cung cấp cơ hội học tiếp cho người lớn tuổi. CNTT mang đến sự đổi mới về cách dạy, cách học cho mọi cấp học.
CNTT cũng tạo điều kiện cho việc hợp tác nghiên cứu khoa học và học từ xa. Các Bộ trưởng nhấn mạnh phương châm "Giáo dục không biên giới" giữa các thành viên APEC. CNTT trong giáo dục sẽ là giải pháp chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức. Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, việc ứng dụng CNTT trong các trường học đã mang lại những hiệu quả cao, có thể phân thành hai xu hướng sau: Xu hướng thứ nhất: các nước đã tích hợp CNTT vào hệ thống giáo dục như Hàn Quốc, Úc và Singapore.