Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÀN ĐIỆU HÁT THEN - DÂN CA TÀY 1. Một số khái niệm, thuật ngữ 1. Dân ca Theo Đại từ điển Tiếng Việt, dân ca là: “Bài hát lưu truyền trong dân gian thường không rõ tác giả” [31,tr. Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn.
Do vậy họ gần như là “đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai. Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là lòng bản và nhiều bản được ứng tấu thêm hay sửa đổi gọi là dị bản. Những bài dân ca được nhiều người yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi. Hiện nay các nhạc sĩ đã sáng tác thêm những lời ca mới dựa trên các làn điệu đã có tạo nên sự đa dạng và phong phú cho dân ca.
Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng nghề ngoài ra thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người. Tuy nhiên mỗi tỉnh thành, dân ca Việt Nam lại có phát âm, giọng nói và các từ khác nhau nên cũng có thể phân theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ngày nay, khi khảo sát một bài dân ca được phổ biến ở một vùng nào đó, muốn biết được xuất xứ của chúng, người ta thường dựa vào một vài đặc điểm có trong đó ví dụ như tiếng địa phương, những địa danh. Đây là cách dễ nhận biết nhất để nhận ra xuất xứ của một bài dân ca.
Nói chung trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như: “rằng, thì, chứ.” và các dấu giọng như: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng được dệt bởi 8 những nốt nhạc sao cho việc phát âm được rõ nét. Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: “r, d, gi” hay “s và x” phát âm giống nhau, không phân biệt nặng nhẹ. Dân ca miền Trung thì thường có chữ “ ni, nớ, răng, rứa.” dấu sắc được đọc thành dấu hỏi (so với giọng người Bắc), dấu hỏi và ngã đều được đọc giống nhau và trầm hơn chữ không dấu. Những bài dân ca miền Nam thì thường có chữ “má (mẹ), bậu (em), đặng (được).” chữ “ê” đọc thành chữ “ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi,.
Nhưng nhìn chung thì vẫn là thoát thai từ lòng dân với đậm tính chất mộc mạc giản dị của họ. Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng bền vững với thời gian [10, tr. Để tiện cho việc nghiên cứu, ta có thể hiểu khái niệm về dân ca tạm thời như sau: Dân ca là những bài ca do nhân dân sáng tác được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Làn điệu Trong một bài viết của Tạp chí Việt có đề cập đến khái niệm làn điệu như sau: Làn điệu là một thuật ngữ âm nhạc dân gian chỉ phần âm hưởng của giai điệu (hay âm điệu) trong các thể loại dân ca, nhằm phân biệt với phần thơ ca dùng làm lời. Là những khúc nhạc có sẵn, được dùng trong các kịch hát dân tộc như tuồng, chèo, cải lương [38]. Các tác giả kịch bản văn học phải nắm được các làn điệu này để viết lời cho phù hợp với nhạc và sắp xếp các thứ tự sử dụng các làn điệu cho phù hợp với tính cách, tuyến phát triển của mỗi nhân vật và giữa các nhân vật với nhau. 9 Trong cấu trúc âm nhạc của làn điệu có một giai điệu cơ bản mang tính chất lòng bản, cho phép một sự biến đổi, xê dịch các yếu tố âm nhạc cho phù hợp với thanh điệu và ngôn điệu cụ thể của từng lời ca.
Trong dân ca Việt Nam, làn điệu thường gồm có hai câu nhạc, ứng với một cặp câu thơ làm lời ca. Đầu và cuối mỗi trổ của làn điệu có thể có bộ phận nhạc gọi là nhạc đáp 1. Thông thường bài hát được thể hiện bằng giọng hát của con người và các nhạc cụ sẽ chơi đệm cho giọng hát đó. Thường thì một bài hát có thể được trình diễn đơn ca, song ca, tam ca, tứ ca.
hay nhiều người cùng biểu diễn và lớn hơn nữa là hợp xướng. Lời bài hát có thể được lấy từ một bài thơ. Bài hát có thể được chia theo nhiều thể loại như dân ca, bài hát hiện đại. Các thể loại khác để xếp loại bao gồm mục đích thể hiện (thánh ca), phong cách thể hiện (theo nhạc nhảy, tình ca.
Trong âm nhạc hiện đại, người nhạc sĩ sáng tác có thể viết nhạc dựa trên một lời hát đã có sẵn của bản thân hoặc của một tác giả khác. Quá trình này gọi là phổ nhạc. Ngược lại, một bài hát có thể ra đời với ý tưởng của người nhạc sĩ, phần âm nhạc được viết trước, rồi mới đến phần lời. Bài hát thường được ca sĩ biểu diễn vì nó thuộc tác phẩm có lời.
Khi một tác phẩm âm nhạc được dàn nhạc trình diễn không có người hát, nó được coi là hòa tấu. Biểu diễn âm nhạc Theo cách hiểu cá nhân: Nghệ thuật biểu diễn tồn tại như một hình thái đặc thù trong lĩnh vực âm nhạc, không có hoạt động biểu diễn, tác 10 phẩm âm nhạc chỉ là những “ký hiệu” chưa thể trở thành nghệ thuật đích thực. Vì vậy, biểu diễn là con đường duy nhất biến tác phẩm âm nhạc thành nghệ thuật. Nghệ thuật biểu diễn đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh năm 1711 [37].
Nghệ thuật biểu diễn sử dụng ngôn ngữ cơ thể làm phương tiện trình diễn trước công chúng. Nghệ thuật biểu diễn cũng được hỗ trợ bởi các thành viên trong các lĩnh vực như: sáng tác, biên đạo, dàn dựng… Hoạt động biểu diễn khác với sáng tác. Quá trình sáng tác diễn ra âm thầm, không lệ thuộc vào tiến trình thời gian. Hoạt động biểu diễn lại diễn ra công khai, đòi hỏi tuân thủ các nguyên tắc quy phạm theo sự chỉ dẫn của tác phẩm 1.
Dàn dựng chương trình âm nhạc Theo tác giả Nguyễn Như Ý: Dàn dựng là sự tập luyện, chuẩn bị mọi mặt cho việc trình bày tác phẩm nghệ thuật trước khi đưa ra công diễn [31; tr 508]. Dàn dựng là công việc của người thực hiện biến phương hướng thành kết quả của chương trình. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu: Dàn dựng là sự tập hợp các tiết mục nghệ thuật ở nhiều thể loại âm nhạc khác nhau dựa vào chủ đề mà người giáo viên (biên đạo hay đạo diễn) cần phải sắp xếp, lên kế hoạch chi tiết cho từng nội dung chương trình như: Chọn bài, chọn đội hình ca, múa; chọn trang phục, đạo cụ; chuẩn bị âm thanh, ánh sáng, sân khấu,… để có một chương trình đạt chất lượng nghệ thuật cao nhất. Dàn dựng là một công việc phức tạp và không ít khó khăn.
Muốn thành công, người đạo diễn cần phải có trình độ chuyên môn nhất định, kiên trì, bền bỉ, học hỏi và luôn có những sáng tạo trong quá trình làm việc. Nói cách khác, dàn dựng chương trình âm nhạc là bộ môn mang tính thực hành, công việc đòi hỏi sự tích lũy và sáng tạo. Người dàn dựng cần có tinh 11 thần học hỏi và tích lũy kinh nghiệm thông qua các nguồn tài liệu, học hỏi qua các đồng nghiệp và quan sát các chương trình biểu diển văn nghệ, thể hiện sự sáng tạo thông qua việc luôn tìm tòi và làm mới các tác phẩm. Bởi vậy không có sự tham gia tích cực và tư duy sáng tạo của người dàn dựng thì không thể có tiết mục hay, chương trình ca nhạc có chất lượng nghệ thuật cao.
Một bài hát, một tác phẩm dù đã gặt hái được thành công vẫn cần có sự sáng tạo về nhiều yếu tố cho phù hợp với xu hướng, quan điểm thẩm mỹ từng thời kỳ khác nhau. Trong thực tế, việc dàn dựng chương trình âm nhạc đòi hỏi người làm công tác dàn dựng phải vận dụng nhiều kiến thức âm nhạc cùng sự đầu tư về thời gian, công sức, trí tuệ, phải chú ý đến yếu tố con người, phải biết tập hợp lực lượng để dàn dựng có hiệu quả, bố trí thời gian hợp lý. Nắm bắt được khả năng diễn viên, phát huy thế mạnh của từng người. Mục đích dàn dựng các chương trình âm nhạc tổng hợp là vừa mang tính giải trí, vừa giáo dục con người sống tốt đẹp hơn.
Sơ lược về dân ca Tày Cao Bằng 1. Khái quát chung Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, nơi lưu dấu nhiều chiến công oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Mỗi địa danh, mỗi khu rừng, nẻo đường nơi đây dường như đều gắn liền với chặng đường phát triển lịch sử cách mạng Việt Nam và cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu kháng chiến. Theo tài liệu khái quát địa lý tỉnh Cao Bằng có giới thiệu: Cao Bằng có tổng diện tích: 6.690,72 km², hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn.
Có 1 thành phố trực thuộc tỉnh (TP Cao Bằng) và 12 huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hạ Lang, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên 12 Bình, Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh. Các dân tộc ở Cao Bằng gồm: Tày (chiếm 41,0% dân số), Nùng (31,1%), H'Mông (10,1%), Dao (10,1%), Việt (5,8%), Sán Chay (1,4%). có 11 dân tộc có dân số trên 50 người [40]. Di sản văn hóa: Cao Bằng là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời, là nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam.
Trong số 224 di tích lịch sử và danh thắng hiện có trên toàn tỉnh, 23 di tích đã được xếp hạng quốc gia và 6 di tích được địa phương xếp hạng. Tiêu biểu như khu di tích lịch sử cách mạng Pác Bó, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân về nước, sống và làm việc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập cho dân tộc từ năm 1941 đến 1945.