Tổng quan nghiên cứu

Trong hơn 40 năm hình thành và phát triển, Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh đã đào tạo thành công 19.157 giáo viên các cấp, cung cấp hơn 90% đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non cho toàn tỉnh Tây Ninh. Khoa Giáo dục Mầm non là đơn vị có quy mô tuyển sinh lớn nhất trường với đặc thù 100% sinh viên là nữ giới. Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy phân môn Âm nhạc đang đối mặt với nhiều thách thức lớn khi thời lượng toàn khóa chỉ vỏn vẹn 45 tiết nhưng phải bao hàm khối lượng kiến thức khổng lồ gồm nhạc lý, tập đọc nhạc và 57 bài hát mầm non.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự bất cập giữa mục tiêu đào tạo chuẩn đầu ra và điều kiện giảng dạy thực tế. Năng khiếu âm nhạc đầu vào của sinh viên phần lớn ở mức trung bình, nhiều sinh viên là người dân tộc thiểu số như Chăm hoặc Khmer gặp rào cản phát âm, trong khi cơ sở vật chất chỉ có 3 phòng học nhạc với 10 cây đàn phím điện tử cho mỗi lớp từ 20 đến 30 sinh viên. Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát toàn diện thực trạng, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm đột phá giúp nâng cao năng lực thực hành nghề nghiệp cho sinh viên.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 45 tiết học phần Âm nhạc nội khóa và các hoạt động ngoại khóa tại Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh, áp dụng thực nghiệm trực tiếp trên sinh viên ngành Giáo dục Mầm non khóa 2016 - 2017. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để tái cấu trúc chương trình, phấn đấu giảm tỷ lệ sinh viên xếp loại yếu từ mức 1% xuống 0% và nâng cao tỷ lệ khá giỏi đạt trên 85%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết hoạt động tâm lý học của nhà khoa học A. Leontiev, khẳng định hoạt động dạy học là quá trình tương tác biện chứng giữa chủ thể, đối tượng và mục đích nhằm hình thành phẩm chất, năng lực người học. Song song đó, đề tài vận dụng lý luận dạy học hiện đại của các nhà giáo dục học như Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Văn Hộ và Hà Thị Đức, nhấn mạnh nguyên tắc người thầy giữ vai trò chủ đạo định hướng, còn người học phát huy tính tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức khoa học.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: quá trình dạy học, nghệ thuật âm nhạc, phương pháp dạy học âm nhạc và hoạt động sư phạm mầm non. Về mặt chuyên ngành, tác giả tiếp thu quan điểm giáo dục âm nhạc mầm non từ các công trình nghiên cứu của Ngô Thị Nam và Phạm Thị Hòa, xác định âm nhạc là loại hình nghệ thuật phản ánh hiện thực khách quan bằng hình tượng âm thanh giàu sức biểu cảm. Mô hình nghiên cứu tích hợp phương pháp tiếp cận đa giác quan, kết hợp chặt chẽ giữa tri giác thính giác, thị giác và vận động cơ thể nhằm hình thành kỹ năng sư phạm toàn diện cho giáo viên tương lai.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua hệ thống hồ sơ đào tạo của 460 sinh viên thuộc 5 khóa học từ năm 2012 đến năm 2017 tại Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật chọn mẫu xác thực kết hợp phân tầng, khảo sát toàn diện 4 giảng viên bộ môn Âm nhạc (trong đó có 1 giảng viên đang học cao học chuyên ngành) và 82 sinh viên lớp Giáo dục Mầm non K41A. Đồng thời, tác giả thực hiện dự giờ quan sát sư phạm trực tiếp trên 10 sinh viên lớp GDMN40 trong đợt thực tập tại Trường Mầm non Tuổi Ngọc.

Phương pháp phân tích tài liệu lý thuyết được lựa chọn nhằm đối chiếu khung đào tạo 45 tiết của ngành Mầm non với khung 150 tiết của ngành Giáo dục Tiểu học. Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi kết hợp thống kê mô tả giúp định lượng hóa thực trạng nhận thức và thói quen học tập. Cuối cùng, phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng được triển khai trong năm học 2016 - 2017 nhằm đo lường chính xác mức độ tiến bộ về kỹ năng đọc nhạc, thẩm âm và ca hát của sinh viên sau khi áp dụng các giải pháp mới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khung chương trình đào tạo học phần Âm nhạc 45 tiết (phân bổ 15 tiết nhạc lý, 15 tiết tập đọc nhạc, 15 tiết thực hành hát) bộc lộ sự quá tải nghiêm trọng. So sánh với hệ Cao đẳng Giáo dục Tiểu học cùng trường được bố trí 150 tiết cho 5 học phần riêng biệt, thời lượng dành cho sinh viên mầm non thấp hơn tới 70%, khiến giảng viên buộc phải dạy lướt từ 3 đến 4 bài hát trong mỗi buổi học 5 tiết liên tục.

Thứ hai, sĩ số lớp học thực hành quá đông, dao động từ 20 đến 30 sinh viên mỗi nhóm (như lớp GDMN 36 có 120 sinh viên chia 4 nhóm), tạo nên sự bất cập lớn về trang thiết bị khi mỗi phòng học chỉ có 10 cây đàn phím điện tử, buộc 2 sinh viên phải dùng chung một đàn.

Thứ ba, thói quen tự học của sinh viên còn rất hạn chế. Mặc dù 95% sinh viên lớp K41A thừa nhận tự học là cần thiết, nhưng số liệu thực tế từ thư viện nhà trường cho thấy có tới 68,3% sinh viên chỉ đến thư viện khi có yêu cầu bắt buộc và 15,9% hiếm khi hoặc chưa bao giờ đến thư viện.

Thứ tư, khảo sát thực tế tại Trường Mầm non Tuổi Ngọc ghi nhận 60% sinh viên (6/10 sinh viên) hát tốt nhưng lúng túng khi kết hợp vận động múa minh họa, và 40% sinh viên (4/10 sinh viên) hoàn toàn không biết sử dụng nhạc cụ đệm hát cho trẻ mầm non.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chỉ ra rằng nguyên nhân cốt lõi của tình trạng giảm sút chất lượng học tập bắt nguồn từ sự mất cân đối giữa khối lượng kiến thức và thời gian rèn luyện kỹ năng. Việc sinh viên vào trường chủ yếu thông qua kỳ thi năng khiếu đơn giản (điểm âm nhạc chỉ chiếm 1/3 tổng điểm xét tuyển năng khiếu) khiến mặt bằng cảm thụ âm thanh không đồng đều. Nhiều sinh viên vùng sâu vùng xa còn mắc lỗi phát âm địa phương, gây cản trở lớn trong việc xướng âm chuẩn xác.

Để tối ưu hóa việc theo dõi diễn biến chất lượng qua các năm, dữ liệu kết quả học tập giai đoạn 2012 - 2017 có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng, phản ánh rõ sự gia tăng tỷ lệ sinh viên xếp loại yếu và biến động giảm của nhóm khá giỏi. Đồng thời, bảng ma trận so sánh chương trình 45 tiết và 150 tiết giúp làm nổi bật khoảng trống thiếu hụt các môn Phương pháp dạy học âm nhạc và Nhạc cụ. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các cảnh báo chuyên môn trong công trình của Ngô Thị Nam và Trần Minh Trí, khẳng định rằng nếu không tăng thời lượng thực hành cá nhân hóa, sinh viên khó có thể đáp ứng được chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non thế hệ mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường thời lượng đào tạo và điều chỉnh cấu trúc chương trình. Nhà trường cần bổ sung thêm 15 tiết (tương đương 1 đơn vị học trình), nâng tổng thời lượng học phần lên 60 tiết. Thời gian hoàn thành mục tiêu này trong học kỳ 1 năm học thứ nhất, hướng đến chỉ tiêu 100% sinh viên nắm vững cấu tạo quãng, thực hành đọc gam thành thạo trước khi xướng âm và nắm chắc các kỹ thuật thanh nhạc cơ bản như lấy hơi, nhả chữ.

Thứ hai, chuẩn hóa giáo trình và sắp xếp 57 bài hát mầm non theo hệ thống chủ đề. Giảng viên bộ môn cần hoàn thiện tài liệu giảng dạy nội bộ, ứng dụng phần mềm Encore để bổ sung hòa âm và hướng dẫn thế tay bấm đàn phím điện tử. Kế hoạch này cần hoàn tất trong 6 tháng, giúp rút ngắn 25% thời gian tập hát truyền khẩu và tạo sự liên thông trực tiếp với học phần Nhạc cụ 45 tiết tự chọn.

Thứ ba, cải tiến phương pháp tổ chức lớp học và trang thiết bị thực hành. Ban Giám hiệu cần phê duyệt quy định chia nhỏ nhóm học thực hành không quá 15 sinh viên mỗi nhóm, bảo đảm tỷ lệ 1 sinh viên sử dụng 1 cây đàn phím điện tử trong suốt giờ học. Giảng viên triển khai phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi âm nhạc và bố trí sơ đồ chỗ ngồi hình chữ U để tăng cường tương tác sư phạm.

Thứ tư, mở rộng hoạt động ngoại khóa âm nhạc gắn liền thực tiễn nghề nghiệp. Tổ bộ môn Âm nhạc phối hợp Đoàn Thanh niên thành lập Câu lạc bộ Âm nhạc Mầm non, định kỳ tổ chức dàn dựng chương trình theo 5 chủ đề giáo dục mầm non trong năm học, đồng thời cử 100% giảng viên tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ thạc sĩ âm nhạc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý giáo dục và ban giám hiệu các trường cao đẳng, đại học đào tạo ngành sư phạm. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để tái cơ cấu khung chương trình đào tạo, phân bổ chỉ tiêu ngân sách mua sắm trang thiết bị phòng nhạc và sắp xếp quy mô lớp học thực hành chuẩn hóa dưới 15 sinh viên.

Nhóm thứ hai là giảng viên giảng dạy chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc. Nghiên cứu mang lại hệ thống giáo án mẫu, phương pháp phân loại bài hát theo chủ đề và quy trình ứng dụng phần mềm ký âm Encore trong việc soạn thảo tài liệu giảng dạy tích hợp nhạc cụ.

Nhóm thứ ba là sinh viên theo học ngành Giáo dục Mầm non tại các cơ sở đào tạo giáo viên. Sinh viên có thể khai thác tài liệu như một cẩm nang hướng dẫn tự học tập đọc nhạc, kỹ thuật luyện thanh, cách khắc phục tật phát âm và quy trình thiết kế hoạt động âm nhạc cho trẻ mẫu giáo.

Nhóm thứ tư là giáo viên mầm non và chuyên viên phụ trách chuyên môn tại các phòng giáo dục và đào tạo. Tài liệu hỗ trợ tra cứu các tiêu chí lựa chọn ca khúc thiếu nhi phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi 4 đến 6 tuổi và phương pháp tổ chức trò chơi âm nhạc sáng tạo trong trường mầm non.

Câu hỏi thường gặp

Khung chương trình 45 tiết môn Âm nhạc ngành mầm non bộc lộ hạn chế gì lớn nhất? Chương trình 45 tiết phải gánh khối lượng kiến thức gồm 15 tiết lý thuyết, 15 tiết đọc nhạc và 15 tiết thực hành 57 bài hát, ít hơn 70% so với 150 tiết của ngành tiểu học. Sự dồn ép này khiến giảng viên phải dạy lướt, sinh viên không có thời gian luyện thanh và thẩm âm cơ bản.

Thực trạng cơ sở vật chất phòng học nhạc ảnh hưởng thế nào đến chất lượng tiếp thu? Mỗi phòng học chỉ trang bị 10 cây đàn phím điện tử trong khi sĩ số nhóm lên tới 20 đến 30 sinh viên, buộc 2 sinh viên dùng chung 1 đàn. Tình trạng này hạn chế nghiêm trọng thời gian thao tác ngón của từng cá nhân và làm giảm hiệu quả rèn luyện kỹ năng đệm hát.

Vì sao cần sắp xếp các bài hát mầm non theo hệ thống chủ đề? Việc phân chia 57 bài hát theo chủ đề kết hợp văn thơ 4 đến 6 chữ giúp sinh viên dễ nhớ, liên kết chặt chẽ với chương trình chăm sóc giáo dục mầm non thực tế, đồng thời giúp giảng viên dễ dàng tích hợp kỹ năng vận động phụ họa và trò chơi âm nhạc.

Sinh viên mầm non gặp trở ngại sư phạm nào lớn nhất khi đi thực tập tại trường mẫu giáo? Khảo sát 10 sinh viên tại Trường Mầm non Tuổi Ngọc ghi nhận 60% sinh viên hát đúng nhưng không thể hướng dẫn trẻ múa phụ họa và 40% sinh viên không sử dụng được nhạc cụ, nguyên nhân do thiếu các học phần thực hành phương pháp dạy học chuyên biệt.

Việc ứng dụng phần mềm ký âm Encore mang lại lợi ích cụ thể gì cho việc dạy và học? Phần mềm Encore giúp chuẩn hóa văn bản bài hát mầm non, bổ sung ký hiệu hợp âm chuẩn xác và thế tay bấm đàn điện tử, giúp sinh viên sử dụng đồng bộ một giáo trình duy nhất cho cả học phần Âm nhạc và học phần Nhạc cụ 45 tiết.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc thực trạng dạy học Âm nhạc cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh giai đoạn 2012 - 2017.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc tăng thêm 15 tiết học phần Âm nhạc và giảm quy mô lớp thực hành xuống dưới 15 sinh viên mỗi nhóm nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo.
  • Đóng góp giải pháp đột phá thông qua việc phân nhóm 57 bài hát mầm non theo chủ đề và ứng dụng công nghệ thông tin với phần mềm Encore trong biên soạn bài giảng.
  • Thiết lập mô hình kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo chính khóa và hoạt động ngoại khóa âm nhạc theo chủ đề, giúp sinh viên làm chủ kỹ năng đàn, hát và vận động múa.
  • Đề xuất lộ trình kiểm định chất lượng đào tạo và khuyến nghị các trường sư phạm khu vực phía Nam áp dụng khung giải pháp trong các năm học tiếp theo.

Đóng góp lớn nhất của công trình là hệ thống giải pháp sư phạm mang tính thực tiễn cao, trực tiếp giải quyết bài toán quá tải chương trình và nâng cao năng lực thực hành nghề nghiệp cho giáo viên mầm non tương lai. Các cơ sở đào tạo sư phạm và giảng viên chuyên ngành cần sớm triển khai áp dụng đồng bộ các giải pháp này vào đề cương chi tiết học phần ngay từ năm học tới để chuẩn hóa năng lực âm nhạc cho đội ngũ giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục toàn diện.