CHƯƠNG 1. CO SỎ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN • số khái niệm 1. Một • về mô hình và mô hình hóa toán học. Mô hình toán học.
Mô hình là một mẫu vật, một đại diện, một minh họa được thiết kế để mô tả cấu trúc của hệ thống, cách vận hành của một hoặc các sự vật, hiện tượng thuộc hệ thống này. Mô hình ờ đây còn có thể hiểu là các hình vẽ, bảng biểu, hàm số, đồ thị, phương trình, sơ đồ, biểu đồ, biểu tượng. Tác giả Nguyễn Danh Nam đã liệt kê 5 loại mô hình sau đây [13] [16J: - Mô hình số học là mô hình được biểu diễn bởi bảng phép toán, bộ số có thứ tự, véc-tơ và tương tự. - Mô hình đại số - giải tích là mô hình được biểu diễn bới một số loại phương trình hoặc bất phương trình, hệ phương trình hoặc hệ bất phương trình với ẩn, tập hợp, hàm số, véc-tơ, ma trận và tương tự.
- Đồ thị là mô hình được biểu diễn bởi đồ thị của một hàm số nào đó. - Mô hình hình học được biểu diễn bởi các hình hình học. - Mô hình hồn hợp bao gồm các loại mô hình nêu trên. Như vậy, mô hình không chì là một công cụ mô tả, minh họa mà còn là một phương tiện để giải thích và giúp học sinh hiểu sâu hơn về các hiện tượng trong thực tế cuộc sống.
Thông qua mô hình, học sinh có thể thấy được các đặc điểm và đặc trưng của vật thể thực tế một cách trực quan và sinh động. Mason & Davis (1991) đã mô tã mô hình như là một công cụ thay thế, cho phép ta nhìn thấy các đặc điểm của vật thể thực tế mà không cần đến vật thật. Điều này mở ra một cách tiếp cận linh hoạt và sáng tạo trong việc nắm bắt và khám phá các thuộc tính của đối tượng, phản ánh ý đồ của người thiết kế mô hình và bối cảnh áp dụng của mô hình đó [30]. Trong dạy học môn toán ở cấp THCS, mô hình toán học là một cấu trúc toán học (hình vẽ, bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ, biểu tượng hoặc mô hình ảo trên máy tính điện tử, .) gồm các kí hiệu và các quan hệ toán học biểu diễn, mô 6 tả các đặc điểm của một tình huống, một hiện tượng hay một đối tượng thực được nghiên cứu.
Đặc điểm quan trọng của mô hình toán học là sử dụng ngôn ngữ toán học để mô tả hiện tượng khách quan [1]. Tóm lại, có thể nói mô hình được dùng để mô tả một tình huống thực tiễn nào đó, mô hình toán học được hiểu là sử dụng công cụ toán học để thể hiện nó dưới dạng ngôn ngữ toán học, trong đó mô hình hoá là quá trình tạo ra mô hình nhằm hướng tới giải quyết một vấn đề nào đó. Mô hình hóa toán học. Theo Blum và Niss (1991), việc dạy học Toán không chỉ là việc truyền đạt kiến thức, kỳ năng toán học mà còn là việc giúp học sinh phát triển khà năng kết nối kiến thức và kỹ năng để áp dụng chúng vào giải quyết các tình huống thực tiễn.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kỳ năng sống và áp dụng kiến thức vào thực tiễn cùa học sinh, giúp HS trở thành những công dân tự chủ và có khả năng thích ứng với môi trường xã hội cũng như nhu cầu của thế giới hiện đại. Khi sử dụng toán học để giải quyết vấn đề, các tình huống thực tiễn thì quá trình MHHTH là một công cụ cần thiết [25]. MHH là quá trình tạo ra các mô hình để giải quyết các vấn đề toán học. Quá trình này tuân theo một quy trình sử dụng các quy tắc đặc biệt đề thành lập giả thuyết hay cấu trúc toán học như: công thức, thuật toán, phương trình, bảng biểu, biểu tượng, đồ thị biểu diễn,.
để từ đó học sinh có một cái nhìn rõ ràng hơn về các vấn đề tồn tại trong thực tiễn [16], Có rất nhiều định nghĩa và mô tả về khái niệm MHH toán học được chia sẻ trong lĩnh vực giáo dục toán học tùy thuộc vào quan điểm lý thuyết mà mỗi tác giả lựa chọn. Sau đây là định nghĩa của Edwards và Hamson (2001): MHH toán học là quá trình chuyển đổi một vấn đề thực tế sang một vấn đề toán học bằng cách thiết lập và giải quyết các mô hình toán học, thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế, cải tiến mô hình nếu cách giải quyết không thể chấp nhận. Như vậy, MHH toán học chính là mô tả các hiện tượng 7 thực tiễn, trả lời các câu hỏi, giải thích các hiện tượng thực tiễn, kiểm tra các ý tưởng, dự đoán về thế giới xung quanh. Thế giới xung quanh được đề cập liên quan đến kĩ thuật, vật lý, sinh học, sinh thái, hóa học, kinh tế, thể thao,.
Theo Freudenthal (1991) thì toán học hóa theo chiều ngang là chuyển từ vấn đề thực tiễn đến bài toán thuần túy, còn toán học hóa theo chiều dọc là giải bài toán trong nội bộ toán học. Nói cách khác, nó là quá trình mô tă một vấn đề thực tế theo ngôn ngữ toán học để có thể giải quyết vấn đề đó với công cụ toán [29], Theo Lê Thị Hoài Châu, mô hình hóa toán học là quá trình xây dựng và cải thiện một mô hình toán học nhằm biểu diễn và giải quyết các vấn đề trong thế giới thực. MHH toán học là một hoạt động phức tạp, bao gồm sự chuyển đối giữa toán học và thực tế theo cả hai chiều. Vì vậy, đòi hởi HS phải có nhiều năng lực khác trong các lĩnh vực toán học cũng như kiến thức liên quan đến tình huống thực tế cần xem xét [4].
Theo tác giả Phạm Thị Diệu Thùy và Dương Thị Hà (2018), MHHTH là quá trinh tạo ra các mô hình toán học để giải quyết vấn đề toán học. Mô hình toán học được xây dựng bằng cách chuyển các vấn đề từ thực tiễn thông qua phương tiện ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ biểu tượng, kí hiệu [22], Như vậy, có thể hiểu: Mô hình hóa toán học là quá trình tìm hiểu và khám phá các tình huống xuất phát từ thực tiễn, sau đó sử dụng các công cụ và ngôn ngữ toán học để biểu diễn và chuyển đổi các tình huống thực tế thành mô hình toán học. Thông qua quá trình này, học sinh có cơ hội áp dụng kiến thức và kỹ năng toán học của mình đề giải quyết các vấn đề thực tiễn được đặt ra. Khi thấy được cách mà toán học có thể được áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, học sinh sẽ trở nên hứng thú và có động lực hơn ương việc học tập cũng như áp dụng kiến thức toán học vào thực tiễn cuộc sống.
Cấp độ mô hĩnh hóa Các tình huống và bài tập MHH cần được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Việc HS tự mình giải quyết được một bài toán có ý nghĩa rất lớn về mặt tâm lý. Ngược lại, việc thất bại ngay từ bài toán đầu tiên dễ làm cho HS mất nhuệ khí, dễ gây tâm trạng bất lợi cho quá trình tổ chức hoạt động tiếp theo. Do đó, trong khi thiết kế hệ thống các tình huống và bài tập MHH, GV cần chú ý đến các cấp độ MHH.
Sau đây là cách đánh giá cấp độ mô hình hoá dựa theo Ludwig và Xu (2010) [32]: Cấp độ • của học Biếu hiện • sinh HS không hiểu tình huống và không thể vẽ, phác thảo hay viết 0 bất cứ cái gì cụ thể về vấn đề. HS chỉ hiểu tình huống thực tiễn nhưng không cấu trúc và đơn 1 giản tình huống hoặc không thể tìm sự kết nối đến một ý tưởng toán học • nào. Sau khi tìm hiểu vấn đề thực tiễn, HS tìm mô hình thật qua cấu 2 trúc và đơn giản hóa, nhưng không biết chuyển đổi thành một vấn đề toán học. HS có thể tìm ra không chỉ mô hình thật, mà còn phiên dịch nó 3 thành vấn đề toán học, nhưng không thể làm việc với nó một cách rõ ràng trong thế giới toán học.
HS có thể thiết lập vấn đề toán học từ tình huống thực tiễn, làm 4 việc với bài toán với kiến thức toán học và có kết quả cụ thể. HS có thể trải nghiệm quá trình MHH toán học và kiểm nghiệm 5 lời giải bài toán trong mối quan hệ với tình huống đã cho. Các câp độ MHH của học sinh 9 1. Quy trình mô hình hóa toán học.
Để vận dụng kiến thức toán học vào việc giải quyết những tình huống của thực tế, người ta phải toán học hóa tình huống đó, tức là xây dựng một mô hình toán học thích hợp cho phép tìm câu trả lời cho tình huống. Quá trình này gọi là quá trình mô hình hóa toán học. Có nhiều nhà nghiên cứu đã xây dựng sơ đồ quy trình MHH. Sau đây là một số ví dụ: 1.
Sơ đồ của Pollak (1979) Năm 1979, Pollak đã đưa ra sơ đồ mô hình hóa đầu tiên về sự chuyển đồi giữa thực tiễn và Toán học và ngược lại khi thực hiện mô hình hóa [37], Sơ đô 1: So' đô quy trình mô hình hóa Toán học theo Pollak (1979) Từ Sơ đồ 1 ta thấy, tình huống thực tiễn ban đầu được phiên dịch sang tình huống Toán học dựa trên ngôn ngữ Toán học rồi giải bài toán trong mô hình đó và quay lại áp dụng kết quả với tình huống thực tiễn ban đầu. Nhìn vào mô hình này của Pollak, ta thấy ông mới chỉ mô tả được một cách vô cùng khái quát quy trình mô hình hóa Toán học. Chúng ta chưa nhận thấy được những công việc quan trọng phải làm để có thể chuyển từ bài toán thực tiễn sang bài toán Toán học và ngược lại. Sơ đồ của Swetz & Hartzler (1991) Quan sát, hiêu và Sơ đô 2: Sơ đô quy trình MHH Toán học theo Swetz & Hartzler (1991) Theo Swetz & Hartzler (1991), quy trình MHH gồm 4 giai đoạn chủ yếu sau đây [39]: * Giai đoạn 1: Quan sát hiện tượng thực tiễn, phác thảo tình huống và phát hiện các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến vấn đề thực tiễn.
Ạ __ Ạ • __ _ 1 /V _ • _ _Ạ A____ _ 1 ' * * Giai đoạn 2: Lập giả thuyêt vê môi quan hệ giữa các yêu tô trong bài Ả L ~ 1 toán sử dụng ngôn ngữ Toán học. Từ đó thiết lập mô hình Toán học tương ứng. * Giai đoạn 3: Áp dụng các phương pháp và công cụ Toán học phù hợp để MHH bài toán và phân tích mô hình đó.