CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động. Mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất lao động, cải tiến các điều kiện để đạt được mục tiêu, trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện, sự phối hợp lao động… và cần có sự tổ chức và điều hành chung, đó là quá trình quản lý.
Cùng với sự phát triển xã hội, trình độ tổ chức và quản lý được từng bước nâng lên. Trong lịch sử Trung hoa cổ đại (những năm 500 đến 300 trước công nguyên), đã xuất hiện tư tưởng quản lý của Khổng Tử nhằm mục đích đào tạo ra lớp người cai trị xã hội, tư tưởng đó được xây dựng trên cốt lõi triết lý đạo nhân với các yếu tố: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng. Những tư tưởng trên tuy chưa sâu về quản lý nhưng đã đặt nền móng cho việc hình thành tư tưởng về nâng cao chất lượng người làm công tác quản lý trong xã hội lúc bấy giờ. Giữa thế kỷ 18, một số nhà khoa học như: Robert Owen (1771-1858), nhà xã hội không tưởng vĩ đại người Anh hay Charles Babbage (1792-1871), nhà toán học người Anh đã đưa ra quan điểm: Tìm giải pháp quản lý với việc nâng cao năng suất lao động và nâng cao trình độ quản lý.
Trong quá trình nghiên cứu nền sản Tư bản chủ nghĩa, Mác-Ănghen đã rút ra kết luận rằng, một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của nền sản xuất tư bản là nhờ có vai trò của hoạt động quản lý.Mác cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động 8 chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc cần có nhạc trưởng” [21, tr. Theo góc độ điều khiển, quản lý là điều khiển, điều chỉnh. Theo góc độ tổ chức, quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, còn theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã đề ra.
Một số quan niệm khác: Tác giả H.Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [21, tr.Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẽ nhất”. Tóm lại, trong quá trình lao động con người phải có sự phân công, hợp tác với nhau và quá trình tổ chức phân công lao động đó là một chức năng quản lý. Do đó, quản lý là một chức năng xã hội, hình thành và phát triển cùng với xã hội.
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của hoạt động quản lý, Người đã chỉ rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa”. Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành 9 công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong” [28, tr.40], cán bộ cách mạng phải là người “vừa hồng, vừa chuyên”, đó chính là mối quan hệ giữa đức và tài trong nhân cách của người CBQL. Trong đó đức là gốc, còn năng lực con người không tự nhiên mà có, phần lớn là do quá trình công tác, rèn luyện tạo nên. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [3, tr.
“Công tác quản lý, lãnh đạo một tổ chức, xét cho cùng là việc thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: quản và lý. Quá trình quản gồm, sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định; quá trình lý gồm, việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào phát triển” [1, tr. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8, tr. Tác giả Bùi Văn Quân cho rằng: “Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực các tác động của chủ thể quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động” [30, tr.
Theo tác giả Vũ Ngọc Hải: “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật. Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý. Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa 10 có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi,… chúng là những mặt đối lập trong hệ thống nhất. Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản lý”, Đề cương bài giảng Quản lý Nhà nước về Giáo dục (Dành cho học viên cao học QLGD).
Tóm lại, tuy có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng có thể hiểu một cách chung nhất, như sau: “Quản lý là những hệ thống tác động có mục đích phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác, vận hành tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong môi trường luôn biến động”. Trong xã hội hiện đại, giáo dục được ví như: “chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa đi vào tương lai”. Thật vậy, theo chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem biến đổi xã hội là một thuộc tính vốn có của xã hội. Bỡi vì, con người không ngừng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng lên của mình.Mác nói: “Các bộ phận xã hội không chỉ tác động qua lại với nhau mà còn mâu thuẫn, thậm chí đối kháng.
Đó là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển xã hội. Sự vận động biến đổi của xã hội tuân theo quy luật mà con người có thể nhận thức được. Do đó, con người có khả năng vận dụng các quy luật đã nhận thức được để cải tạo xã hội cho phù hợp với lợi ích của mình. Một xã hội hiện đại là xã hội áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ, trí tuệ để phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước.
Tăng trưởng kinh tế cùng với những biến đổi xã hội đã làm cho mức sống con người được nâng cao. Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá văn minh của nhân loại. Điều này càng thể hiện rõ trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển. Giáo dục được coi là nhân tố tích cực tạo nên nguồn nhân lực, quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và sự thành đạt cho mỗi cá nhân trong cuộc sống của mình.
Vì thế, phát triển 11 giáo dục đã trở thành “quốc sách hàng đầu” của nhiều quốc gia. Phát triển giáo dục là phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra mục tiêu đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao.
Vì vậy muốn đảm bảo tăng trưởng về kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng, trước hết phải chăm lo việc phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều này rất cần được bắt buộc ở giáo dục phổ thông. Trong quá trình xây dựng đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, trong đó chú trọng việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL. Điều đó thể hiện qua chủ trương, chính sách, hệ thống văn bản pháp luật.
Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) khẳng định: “Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” [12].