phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí thuyết và thực tiễn; - Chƣơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ dân ca Tày xét về hình thức văn bản; - Chƣơng 3: Đặc điểm ngôn ngữ dân ca Tày xét về ngữ nghĩa. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình sưu tầm và nghiên cứu về dân ca Tày từ góc độ văn hóa, văn học nghệ thuật 1.
Tình hình sƣu tầm, giới thiệu về văn bản dân ca Tày Năm 1973, Nhà xuất bản Việt Bắc in cuốn Dân ca đám cƣới Tày - Nùng do Nông Minh Châu sƣu tầm và biên dịch. Tác giả đã tập hợp và biên dịch trên 100 khúc hát đám cƣới Tày - Nùng. Trong Lời giới thiệu, tác giả Vi Quốc Bảo viết: “Những bài hát đó kéo dài suốt quá trình đám cƣới và chỉ kết thúc khi các nghi thức đám cƣới đã đƣợc thực hiện đầy đủ”., “các bài hát đám cƣới là một yêu cầu về sinh hoạt văn hóa tinh thần - văn nghệ”., “giá trị của những bài hát đám cƣới là đã phản ánh, miêu tả một cách sắc nét xã hội và đời sống của dân tộc Tày” [25, tr. Cung Văn Lƣợc, Lê Bích Ngân (1987) biên soạn cuốn Lƣợn cọi Tày - Nùng [84].
Cuốn sách chủ yếu tập trung vào phần dịch thơ, khảo dị và chú thích về 62 bài hát lƣợn cọi đƣợc tuyển chọn từ các văn bản Nôm do nhóm tác giả sƣu tầm. Năm 1992, Nhà xuất bản Khoa học xã hội cho ra mắt bạn đọc Tổng tập văn học các dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam [159] do giáo sƣ Đặng Nghiêm Vạn chủ biên. Đây là tuyển tập văn học về công tác sƣu tầm văn học thiểu số ở Việt Nam, trong quyển 3 nhóm tác giả có giới thiệu tới một số bài dân ca của ngƣời Tày. Vi Hồng (1993) đã xuất bản cuốn Khảm hải - Vƣợt biển [61] - một trong những khúc ca của lời hát then.
Tác giả sƣu tầm, giới thiệu đầy đủ văn bản Khảm hải bằng tiếng Tày và đƣợc dịch ra chữ Quốc ngữ. Với tƣ cách là một nhà nghiên cứu văn học dân gian, Vi Hồng đã giới thiệu về tình hình văn bản và việc xử lí văn bản Khảm hải, đồng thời cũng nêu ra một số suy nghĩ về trƣờng ca trữ tình Khảm hải của dân tộc Tày. Năm 1994, Hoàng Tuấn Cƣ, Vi Quốc Bình, Nông Văn Tƣ, Hoàng Hạc đã giới thiệu tác phẩm Then bách điểu [28] với 3.980 câu viết bằng chữ Nôm Tày và đƣợc nhóm tác giả dịch sang tiếng Việt. Năm 2018, Hoàng Tuấn Cƣ tiếp tục biên soạn cuốn Lƣợn, phong slƣ dân ca trữ tình của ngƣời Tày xứ Lạng [30].
Tác giả đã khái quát về hai loại dân ca trữ tình của ngƣời Tày ở Lạng Sơn là lƣợn, phong slƣ từ hình 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức, nội dung đến giá trị của chúng trong đời sống của ngƣời Tày nơi đây. Đặc biệt, giới thiệu các văn bản lƣợn, phong slƣ nguyên văn tiếng Tày và dịch tiếng Việt. Tác giả giới thiệu tới bạn đọc 7.466 câu lƣợn dƣới dạng song ngữ (chữ Tày, dịch sang chữ Quốc ngữ). Ngoài ra, ở phần cuối sách còn giới thiệu một số trang văn bản lƣợn Cọi chữ Nôm Tày.
Hội Văn học nghệ thuật Bắc Thái (1996) in cuốn Thơ lẩu (Thơ đám cƣới) [54]. Cuốn sách gồm 100 bài thơ lẩu (nguyên âm tiếng Tày, dịch thơ) đƣợc sƣu tầm ở vùng Bạch Thông - Bắc Kạn. Triều Ân - chủ biên (2000) cuốn Then Tày những khúc hát [3] giới thiệu chung về then Tày và những khúc hát; tuyển dịch những khúc hát cầu chúc, lễ hội; những khúc hát then Dàng nguyên văn tiếng Tày - phiên âm từ bản Nôm; Năm 2011, tiếp tục ra mắt độc giả cuốn Lễ hội Dàng then [4], giới thiệu về lễ hội Dàng then, khúc hát phần lễ, khúc hát phần hội, khúc hát lễ hội Dàng then; Năm 2013, tác giả sƣu tầm, phiên âm, dịch thuật cuốn Then giải hạn [5]. Sách gồm hai phần: Giới thiệu cái thực cuộc sống và cái ƣớc mơ của dân gian cùng niềm khát vọng bình an khang thái trong then Tày giải hạn; văn bản then Tày giải hạn (bản dịch tiếng Việt, bản phiên âm tiếng Tày, bản Nôm nguyên văn).
Năm 2001, trong cuốn Thơ ca dân gian xứ Lạng [9], Nguyễn Duy Bắc tuyển chọn, giới thiệu thơ ca dân gian của hai dân tộc Tày và Nùng ở Lạng Sơn. Ở kho tàng thơ ca dân gian ngƣời Tày, tác giả sƣu tầm bốn tiểu loại dân ca: Lƣợn slƣơng, quan lang, phong slƣ, then ở hai dạng thức ngôn ngữ là tiếng Tày, tiếng Việt. Nguyễn Thiên Tứ (2008) xuất bản cuốn Thơ quan lang [155]. Tác giả tập sách đã sƣu tầm, dịch, giới thiệu đến bạn đọc thơ quan lang của ngƣời Tày ở Cao Bằng với mong muốn góp thêm tƣ liệu vào kho tàng văn hóa dân gian dân tộc Tày Việt Nam.
Ma Ngọc Hƣớng (2011) trong cuốn Hát quan làng trong đám cƣới của ngƣời Tày Khao Hà Giang [65] đã khái quát về ngƣời Tày Khao và phong tục hát quan làng trong đám cƣới của họ, đồng thời tác giả giới thiệu lời Tày, dịch lời Việt các ca khúc quan làng trong đám cƣới của ngƣời Tày Khao ở các huyện Bắc Mê (48 bài), Quang Bình (10 bài), Bắc Quang (22 bài). Năm 2012, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trong Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam đã xuất bản cuốn Lƣợn Tày [55]. Cuốn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sách gồm hai phần: Thứ nhất, Lƣợn Tày Lạng Sơn do Hoàng Văn Páo (chủ biên) cùng các cộng sự giới thiệu các bài hát lƣợn ở vùng Lạng Sơn; Thứ hai, Lƣợn slƣơng do Phƣơng Bằng, Lã Văn Lô sƣu tầm, phiên âm, dịch. Tống Đại Hồng, Lƣơng Long Vân, Ma Văn Đức (2015) biên soạn cuốn Văn quan làng Tuyên Quang [57] giới thiệu 162 bài hát quan làng trong lễ cƣới của ngƣời Tày ở Tuyên Quang, gồm: 130 bài của bên nhà trai, 32 bài của bên nhà gái, đƣợc thể hiện ở ba dạng thức chữ viết: chữ Nôm Tày, chữ Tày latinh và dịch ra chữ Quốc ngữ.
Năm 2016, Ma Văn Vịnh, Nguyễn Văn Quyền xuất bản hai tập sách Các bài hát then nghi lễ cấp sắc tăng sắc của ngƣời Tày Bắc Kạn [169]. Các tác giả đã sƣu tầm, phiên âm, dịch nghĩa, giới thiệu 82 bài hát dùng trong lễ cấp sắc (hoặc tăng sắc) của ngƣời Tày vùng Bắc Kạn. Trong đó, quyển 1 giới thiệu và phiên âm tiếng Tày, quyển 2 là dịch nghĩa sang tiếng Việt. Bên cạnh đó, có thể kể tới một loạt các tác phẩm về văn bản dân ca Tày đã đƣợc sƣu tầm và xuất bản: - Lục Văn Pảo (1985), Thơ đám cƣới Tày, Nxb Khoa học xã hội.
- Phƣơng Bằng, Lã Văn Lô (1992), Lƣợn slƣơng, Nxb Văn hóa dân tộc. - Hoàng Thị Quỳnh Nha (2003), Sli lƣợn hát đôi của ngƣời Tày - Nùng ở Cao Bằng, Nxb Văn hóa Thông tin. - Hoàng Tuấn Cƣ (2016), Khỏa quan: những bài lƣợn trong nghi lễ cấp sắc, thăng sắc của ngƣời Tày Lạng Sơn, Nxb Sân khấu. - Nông Phúc Tƣớc - chủ biên (2017), Then bách hoa, bách điểu, bắt ve sầu, Nxb Hội Nhà văn.
- Mông Ký Slay, Lê Chí Quế, Hoàng Huy Phách, Nông Minh Châu (2018), Dân ca Tày - Nùng, Nxb Hội Nhà văn. Nhận xét: - Nguồn tƣ liệu văn bản dân ca Tày đƣợc các nhà nghiên cứu sƣu tầm tƣơng đối có hệ thống, đƣợc sắp xếp theo trình tự diễn tiến của buổi diễn xƣớng. Các văn bản đƣợc sƣu tầm ở nhiều vùng miền khác nhau, nơi cƣ trú tập trung của đồng bào Tày nhƣ: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang,. - Các ấn phẩm sƣu tầm, biên dịch đã cung cấp nguồn ngữ liệu rất phong phú về dân ca Tày cho việc tìm hiểu nhiều mặt về loại hình nghệ thuật dân gian dân tộc Tày.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với Ngôn ngữ học, đây là nguồn ngữ liệu vô cùng quý giá để tìm hiểu ngôn ngữ dân ca Tày. Tình hình nghiên cứu dân ca Tày Dân ca Tày đã đƣợc biết đến từ rất sớm với những làn điệu lƣợn, then, phong slƣ, quan lang, phuối pác, phuối rọi, vén noọng nòn. Năm 1974, trong cuốn Bƣớc đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc [101], các nhà nghiên cứu đã có những tìm hiểu đa diện về đời sống văn hóa, tinh thần, nội dung, hình thức, những giá trị trong bƣớc đầu khảo cứu dân ca Tày, Nùng. Lƣờng Văn Thắng với bài viết “Tìm hiểu nội dung của một số bài thơ quan lang”.
Vi Quốc Bảo có bài viết “Những bài ca đám cƣới - những bài thơ trữ tình”. Nông Minh Châu có bài “Khảm hải - một tác phẩm văn học cổ của dân tộc Tày”. Ngoài ra, trong cuốn sách còn có một số bài viết của nhà văn Vi Hồng: “Vài ý nghĩ nhỏ bƣớc đầu về thơ ca dân tộc Tày - Nùng”, “Thử tìm hiểu về nội dung của lƣợn”. Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vi Hồng trong cuốn Sli, lƣợn dân ca trữ tình Tày - Nùng (xuất bản năm 1979) [60] đã giới thiệu về đời sống văn hóa, tinh thần của hai dân tộc Tày, Nùng qua làn điệu dân ca sli, lƣợn, phong slƣ cùng với đề tài, nội dung tƣ tƣởng, ý nghĩa thẩm mĩ, cách xây dựng hình tƣợng trong các thể loại này.
Năm 1976, trong bài viết “Vài suy nghĩ về hát quan lang, phong slƣ, lƣợn” [59] đăng trên Tạp chí Văn học, tác giả Vi Hồng đã giới thiệu khái quát về ba tiểu loại dân ca phổ biến của ngƣời Tày và Nùng: nguồn gốc, nội dung tổ chức, hình thức lề lối cơ bản. Cuốn Mấy vấn đề về then Việt Bắc (1978) [102] là tập hợp các báo cáo, tham luận của Hội nghị công tác sƣu tầm nghiên cứu về then đƣợc tổ chức tại Thái Nguyên. Các bài viết tập trung bàn luận về nguồn gốc, loại hình, nghệ thuật diễn xƣớng, hiện thực sinh hoạt, tín ngƣỡng. trong then ở một số tỉnh khu vực Đông Bắc: Lạng Sơn, Bắc Thái, Cao Bằng, Hà Giang từ trƣớc năm 1978.
Năm 1983, trong giáo trình Văn học dân gian các dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam [108], tác giả Võ Quang Nhơn đã tổng hợp, so sánh, nghiên cứu về thơ ca dân gian các dân tộc ít ngƣời, trong đó có dân ca Tày.