Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm ngôn ngữ trong dân ca Tày" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Thị Như Nguyệt, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số: 9220102), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Tạ Văn Thông và TS. Nguyễn Văn Lộc tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên (bảo vệ năm 2022).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Việt Nam là quốc gia đa dân tộc gồm dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số. Trong đó, người Tày là cộng đồng dân tộc thiểu số có dân số đông nhất, sở hữu kho tàng di sản văn hóa cổ truyền phong phú cùng chữ viết riêng (chữ Nôm Tày và chữ Tày hệ Latinh). Trước nguy cơ mai một ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc có ý nghĩa cấp bách. Vốn văn nghệ dân gian Tày lưu giữ nhiều thể loại ca từ nghệ thuật có vần điệu và tính hình tượng cao (lượn, then, quan lang, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén noọng nòn...). Mặc dù dân ca Tày đã được tiếp cận nhiều từ góc độ Văn hóa học, Văn học, Văn tự học và Âm nhạc học, song các nghiên cứu ngôn ngữ học chuyên biệt, toàn diện về cả bình diện hình thức văn bản lẫn ngữ nghĩa của lời ca dân ca Tày vẫn còn là khoảng trống khoa học cần được khảo cứu hệ thống.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Qua việc tìm hiểu các đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa của dân ca Tày, luận án nhằm chỉ ra những giá trị riêng biệt của ngôn ngữ trong dân ca Tày, từ đó đóng góp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển vốn văn hóa, ngôn ngữ truyền thống của dân tộc Tày.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
    1. Thu thập và trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu, tìm hiểu xác lập cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài.
    2. Miêu tả những đặc điểm về hình thức của các ngữ liệu văn bản dân ca Tày được khảo sát.
    3. Miêu tả những đặc điểm về ngữ nghĩa của các ngữ liệu văn bản dân ca Tày được khảo sát.
  • Đối tượng nghiên cứu: Những đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản dân ca Tày, cụ thể là ba loại văn bản dân ca: lượn, quan lang và then.
  • Phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát:
    • Phạm vi nghiên cứu: Luận án đi sâu vào hai phương diện chính: Đặc điểm hình thức ngôn ngữ (khảo sát các đơn vị: cuộc, chặng, khúc, lời, thể, vần, nhịp, các loại cấu trúc) và Đặc điểm ngữ nghĩa (chủ đề, các trường từ vựng - ngữ nghĩa, hệ thống biểu tượng ngôn ngữ).
    • Ngữ liệu khảo sát: Tập trung vào các văn bản thuộc ba tiểu loại (lượn, quan lang, then) được sưu tầm tại hai địa bàn cư trú lâu đời của người Tày là Cao Bằng và Lạng Sơn, có đối dịch song ngữ tiếng Tày (chữ hệ Latinh) và bản dịch văn học (chữ Quốc ngữ).
STT Tên công trình ngữ liệu khảo sát Tác giả / Chủ biên Năm xuất bản Nhà xuất bản
1 Then Tày những khúc hát Triều Ân (chủ biên) 2000 Nxb Văn hóa dân tộc
2 Thơ ca dân gian xứ Lạng Nguyễn Duy Bắc 2001 Nxb Văn hóa dân tộc
3 Thơ quan lang Nguyễn Thiên Tứ 2008 Nxb Văn hóa dân tộc
4 Lượn, phong slư dân ca trữ tình của người Tày xứ Lạng Hoàng Tuấn Cư 2018 Nxb Hội Nhà văn

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trên ba bình diện chính:

1. Tình hình sưu tầm và nghiên cứu dân ca Tày từ góc độ văn hóa, văn học nghệ thuật

  • Về công tác sưu tầm, công bố văn bản: Nông Minh Châu (1973) với Dân ca đám cưới Tày - Nùng (Vi Quốc Bảo viết Lời giới thiệu); Cung Văn Lược và Lê Bích Ngân (1987) với Lượn cọi Tày - Nùng; Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (1992) trong Tổng tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam (tập 3); Vi Hồng (1993) với Khảm hải - Vượt biển; Hoàng Tuấn Cư, Vi Quốc Bình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc (1994) với Then bách điểu; Hội Văn học nghệ thuật Bắc Thái (1996) với Thơ lẩu (Thơ đám cưới); Triều Ân (2000, 2011, 2013) với Then Tày những khúc hát, Lễ hội Dàng then, Then giải hạn; Nguyễn Duy Bắc (2001) với Thơ ca dân gian xứ Lạng; Nguyễn Thiên Tứ (2008) với Thơ quan lang; Ma Ngọc Hướng (2011) với Hát quan làng trong đám cưới của người Tày Khao Hà Giang; Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (2012) với Lượn Tày (Hoàng Văn Páo chủ biên, Phương Bằng, Lã Văn Lô); Tống Đại Hồng, Lương Long Vân, Ma Văn Đức (2015) với Văn quan làng Tuyên Quang; Ma Văn Vịnh và Nguyễn Văn Quyền (2016) với Các bài hát then nghi lễ cấp sắc tăng sắc của người Tày Bắc Kạn; Hoàng Tuấn Cư (2016, 2018) với Khỏa quan, Lượn, phong slư dân ca trữ tình của người Tày xứ Lạng; Nông Phúc Tước chủ biên (2017); Mông Ký Slay, Lê Chí Quế, Hoàng Huy Phách, Nông Minh Châu (2018).
  • Về nghiên cứu nội dung, nghệ thuật diễn xướng: Các bài viết của Lường Văn Thắng, Vi Quốc Bảo, Nông Minh Châu, Vi Hồng trong Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc (1974); Vi Hồng (1976, 1979, 2001) với các bài báo và chuyên khảo Sli, lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng, Thì thầm dân ca nghi lễ; Mấy vấn đề về then Việt Bắc (1978); Võ Quang Nhơn (1983); Hoàng Đức Chung (1999) về Then bjoóc mạ; Nông Thị Nhình (2000); Nguyễn Thị Hoa (2002); Lộc Bích Kiệm (2004); Đỗ Trọng Quang (2005); Nguyễn Thị Yên (2006, 2009, 2018) với Then Tày, Then chúc thọ của người Tày, Lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng; Nguyễn Thanh Hiền (2007); Tô Ngọc Thanh (2012); Nguyễn Thị Thoa (2015) với luận án tiến sĩ về tục hát quan lang; Dương Thị Lâm và Trần Văn Ái (2015); Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2017) với luận án về nghệ thuật trình diễn Then; Lương Thị Hạnh (2020); Lục Văn Pảo (2004) trong Từ điển văn học (bộ mới); Nguyễn Thị Việt Thanh và Vương Toàn (2015) trong Từ điển văn hóa truyền thống các dân tộc Thái Tày Nùng; Viện Âm nhạc (2018) với bộ sách Hát then các dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam; Hoàng Việt Bình và Lý Viết Trường (2021) với Từ điển văn hóa Then.

2. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ Tày

Các công trình khảo sát ngôn ngữ Tày ở bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chữ viết và phương ngữ: Viện Ngôn ngữ học (1972) với Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; Cung Văn Lược (1992) với luận án Chữ Nôm Tày qua so sánh với chữ Hán và chữ Nôm Việt; Hoàng Văn Ma, Mông Kí Slay, Hoàng Văn Sán (2002) với Sách học tiếng Tày - Nùng; Trần Trí Dõi (2004); Lương Bèn và Đào Thị Lý (2015) với Tiếng Tày cơ sở; Tạ Văn Thông chủ biên (2017) với Ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam; cùng các bài viết, từ điển của Lạc Dương (1969), Nguyễn Hàm Dương (1969, 1970), Nguyễn Thiện Giáp (1970), Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí (1970, 1971, 2005, 2009), Nguyễn Minh Thuyết, Lương Bèn, Nguyễn Văn Chiến (1971), Lương Bèn (2009, 2011), Triều Ân và Vương Toàn (2016).

3. Nghiên cứu ca từ và ngôn ngữ dân ca

  • Nghiên cứu ca từ dân ca nói chung: Dương Viết Á (2000) với Ca từ trong âm nhạc Việt Nam; Triệu Thị Linh (2008) về Xình ca Cao Lan; Ngô Thị Thu Hằng (2012) về Quan họ Bắc Ninh; Trịnh Thị Thảo (2013) về dân ca Sán Chí; Phạm Thị Mai Thu (2015) về hát chầu văn; Hoàng Trọng Canh (2015) về Ví - Giặm Nghệ Tĩnh; Nguyễn Thị Nụ (2017) về hát Dậm Quyển Sơn; Trần Anh Tư (2017) về thanh điệu và giai điệu hát ví; Lê Thị Hồng Tím (2018) về hát Trống quân; Đặng Thị Huyền Trang (2018) về bài ca nghi lễ người Nùng; Trần Thị Diễm Hạnh (2021) với luận án tiến sĩ về ca từ hát Xoan Phú Thọ.
  • Nghiên cứu ngôn ngữ trong dân ca Tày: Dương Kim Bội (1975) với Lời hát then; Đàm Thùy Linh (2009) về quan lang Thạch An; Lê Thị Phương Thảo (2011) về lượn slương Bắc Kạn; Nông Thị Ngọc (2012) về then kì yên Hà Giang; Đinh Thị Liên (2012) với luận văn Một số đặc điểm ngôn từ trong then Tày; Nguyễn Hằng Phương và Phạm Văn Vũ (2016) về thơ lẩu; Hoàng Thu Trang (2017) về hệ thống biểu tượng trong then Tày; Nguyễn Thị Yên (2018); Nguyễn Văn Tuân (2019) về văn bản then cấp sắc Nôm Tày.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trước đây về dân ca Tày chủ yếu tiếp cận dưới góc độ văn hóa, văn học hoặc văn tự học Hán Nôm. Những nghiên cứu ngôn ngữ học chuyên biệt còn ít và chủ yếu dừng lại ở cấp độ luận văn, khảo sát đơn lẻ một thể loại (như then Tày của Đinh Thị Liên). Do đó, luận án xác định vị trí nghiên cứu là công trình chuyên khảo ngôn ngữ học đầu tiên khảo sát đồng bộ, đối sánh ba thể loại dân ca tiêu biểu của người Tày (lượn, quan lang, then) trên cả hai bình diện hình thức văn bản và cấu trúc ngữ nghĩa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết

  • Lý thuyết văn bản và văn bản nghệ thuật: Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ trọn vẹn về nội dung và hình thức, đảm bảo các yêu cầu về chủ đề, thông tin (thông tin hiển ngôn và thông tin hàm ngôn) và tính mạch lạc (dẫn giải quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp). Văn bản dân ca Tày được định vị là văn bản nghệ thuật đặc biệt, có tính hình tượng, tính thẩm mĩ, tính tình thái và tính truyền cảm cao; có kết cấu phân chia và tổ chức chất liệu hiện thực hoàn chỉnh.
  • Lý thuyết ngữ nghĩa:
    • Trường nghĩa (semantic field): Hệ thống các đơn vị từ vựng có chung một thành tố nghĩa, có tính hệ thống và tính tôn ti, cấp bậc (hierarchique), gồm các trường lớn và các tiểu trường. Luận án khảo sát các trường nghĩa trong sử dụng thực tế của lời ca dân gian.
    • Chủ đề văn bản (text theme): Phạm vi hiện thực được nhận thức, đánh giá và phản ánh trong văn bản, đóng vai trò liên kết mạch lạc giữa các chặng, khúc, lời hát.
  • Lý thuyết ngôn ngữ trong Thi pháp học: Khảo sát các phương tiện tạo nhạc tính và nhịp điệu của ca từ, gồm: Thể (thể năm tiếng, thể bảy tiếng, thể hỗn hợp); Vần (căn cứ vị trí: vần lưng, vần chân, vần liền, vần cách, vần ôm, vần giao nhau, vần hỗn hợp; căn cứ tính chất: vần chính, vần thông, vần áp theo phân loại của Nguyễn Thái Hòa và Lý Toàn Thắng); Nhịp điệu.
  • Lý thuyết giao tiếp và hội thoại: Dân ca Tày phần lớn tồn tại dưới dạng diễn xướng đối đáp, chịu sự chi phối của các quy tắc hội thoại: Nguyên tắc cộng tác hội thoại và các phương châm hội thoại của H. Grice (1967); Quy tắc lịch sự và lý thuyết thể diện (thể diện âm tính và thể diện dương tính); Cấu trúc hội thoại theo Đỗ Hữu Châu (1980, 2007) gồm các đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, lời và vị trí chuyển tiếp lượt lời (TRP).
  • Lý thuyết văn hóa, bản sắc văn hóa và biểu tượng: Xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc; biểu tượng ngôn ngữ được nhìn nhận như những tín hiệu thẩm mĩ đa nghĩa mang tính văn hóa tộc người.
  • Hệ khái niệm công cụ về đơn vị cấu tạo dân ca Tày: Luận án phân biệt rõ ràng:
    • Kết cấu: Sự phân chia và bố trí tổng thể các đơn vị: Cuộc hát -> Chặng hát -> Khúc hát -> Lời hát -> Đoạn hát -> Câu hát.
    • Cấu trúc: Mối quan hệ tương tác giữa các cặp kế cận, các đoạn và các lượt lời trong văn bản.

2. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Phân tích và tổng hợp các đặc điểm ngôn ngữ văn bản dân ca Tày, kết hợp các thủ pháp:
    • Thủ pháp phân tích văn bản: Phân tích kết cấu (cuộc, chặng, khúc, lời), phân tích thể, vần, nhịp; kết hợp dịch nghĩa đen từng âm tiết (từng "tiếng") tiếng Tày đối chiếu với bản dịch văn học để làm rõ cấu trúc.
    • Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể; gom nhóm các từ ngữ theo các trường từ vựng - ngữ nghĩa.
    • Thủ pháp thống kê, phân loại: Lập bảng định lượng, phân loại các thể thơ, mô hình vần, các trường từ vựng và hệ thống biểu tượng nhằm xác định quy luật xuất hiện của ngữ liệu.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức từ Văn học dân gian, Âm nhạc dân gian, Văn hóa học và Thi học để hỗ trợ giải mã ngữ liệu ngôn ngữ học.

3. Nguồn tư liệu và ngữ liệu

Ngữ liệu được trích xuất trực tiếp từ 4 công trình xuất bản uy tín về then, quan lang và lượn của các nhà nghiên cứu Triều Ân, Nguyễn Duy Bắc, Nguyễn Thiên Tứ và Hoàng Tuấn Cư. Ngữ liệu đảm bảo tính chuẩn xác qua hai kênh chữ: chữ Tày hệ Latinh và chữ Quốc ngữ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí thuyết và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu dân ca Tày và tiếng Tày từ trước đến năm 2022; xác lập hệ khung lí thuyết chuyên ngành (ngôn ngữ học văn bản, ngữ nghĩa học, thi pháp học, ngữ dụng học hội thoại, lí thuyết biểu tượng văn hóa). Đồng thời, chương này khái quát về dân tộc Tày (dân tộc bản địa thuộc nhóm Tày - Thái Trung, loại hình ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính), lịch sử chữ viết (chữ Nôm Tày hình thành cuối thế kỉ XVI, chữ Tày - Nùng hệ Latinh ban hành năm 1961) và bức tranh toàn cảnh về các thể loại dân ca Tày (phong slư, lượn, quan lang, then, phuối pác/phuối rọi, vén noọng nòn, đồng dao). Tác giả định nghĩa chi tiết các đơn vị kết cấu phục vụ khảo sát ở các chương sau.

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ dân ca Tày xét về hình thức văn bản

Chương 2 tập trung khảo sát các phương diện hình thức của văn bản dân ca Tày qua các nội dung chính:

  • Kết cấu văn bản dân ca Tày: Luận án chứng minh văn bản dân ca Tày có tổ chức tôn ti chặt chẽ theo quan hệ bao hàm: $$\text{Cuộc hát} \longrightarrow \text{Chặng hát} \longrightarrow \text{Khúc hát} \longrightarrow \text{Lời hát} \longrightarrow \text{Đoạn hát} \longrightarrow \text{Câu hát}$$
    • Cuộc hát: Đơn vị văn bản trọn vẹn gắn với một lần diễn xướng hoàn chỉnh (cuộc hát quan lang từ cổng làng đến khi đón dâu xong; cuộc hát then từ lúc cúng thỉnh đến khi kết thúc nghi lễ).
    • Chặng hát: Khoảng phân định trong cuộc hát dựa trên diễn tiến nội dung hoặc các chặng dừng nghỉ (như chặng thử thách và chặng đón dâu trong quan lang).
    • Khúc hát: Đơn vị tương đối độc lập trong chặng hát, tương đương một bài ca nhỏ mang tiểu chủ đề riêng (ví dụ khúc Tuộng xỉnh - chào mời, khúc Nổp tháp lệ - nộp lễ trong quan lang).
    • Lời hát: Chuỗi phát ngôn do một người hát cất lên trong một lượt lời giao tiếp. Lời hát then thường dài nhất, lời lượn ngắn gọn hơn.
    • Đoạn hát: Các phần có chức năng chuyên biệt trong một lời hát (đoạn mở lời, đoạn giãi bày, đoạn kết).
    • Câu hát: Dòng lời ca căn bản được cấu tạo từ các âm tiết/từ ngữ mang tiết tấu nhất định.
  • Cấu trúc trong khúc hát và lời hát: Vận dụng lí thuyết phân tích hội thoại để chỉ ra mối quan hệ liên kết giữa các cặp kế cận, tham thoại dẫn nhập, tham thoại hồi đáp và tham thoại có chức năng ghép trong các cuộc đối đáp dân gian.
  • Thể, vần, nhịp trong dân ca Tày:
    • Thể: Ba thể thơ cơ bản được sử dụng gồm thể năm tiếng (ngũ ngôn), thể bảy tiếng (thất ngôn) và thể hỗn hợp (số tiếng co giãn linh hoạt theo giai điệu diễn xướng).
    • Vần: Sự đa dạng trong tổ chức gieo vần: xét theo vị trí có vần lưng, vần chân, vần liền, vần cách, vần ôm, vần giao nhau và vần hỗn hợp; xét theo tính chất có vần chính, vần thông và vần áp.
    • Nhịp: Cách ngắt nhịp biến hóa theo từng thể thơ và làn điệu diễn xướng tạo nên tính nhạc đặc thù.
  • Các giá trị phản ánh qua hình thức ngôn ngữ: Hình thức văn bản dân ca Tày phản ánh sự phong phú của các thể loại văn nghệ cổ truyền Tày; phản ánh các nghi thức giao tiếp khuôn mẫu, tao nhã của đồng bào Tày; đồng thời thể hiện những nét tương đồng về thi pháp dân ca của cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam.

Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ dân ca Tày xét về ngữ nghĩa

Chương 3 đi sâu giải mã ngữ nghĩa ca từ trên ba bình diện: chủ đề, trường nghĩa và biểu tượng ngôn ngữ:

  • Chủ đề trong các loại dân ca Tày:
    • Lượn: Chủ đề trữ tình, giao duyên, tâm tư tình cảm của nam nữ thanh niên, những lời hẹn ước và nỗi niềm trong tình yêu.
    • Quan lang: Chủ đề nghi lễ hôn nhân, lời chào hỏi, đối đáp thử thách, răn dạy đạo lý làm dâu, làm rể và ứng xử giữa hai họ.
    • Then: Chủ đề tín ngưỡng, hành trình dâng lễ lên cõi thần linh (mời Then, vượt biển Khảm hải, cầu chúc, giải hạn, cầu mùa, cấp sắc).
  • Các trường từ vựng - ngữ nghĩa cơ bản: Luận án thống kê và lập danh mục phân loại từ ngữ dân ca Tày thành 6 trường nghĩa lớn:
STT Tên trường nghĩa trong dân ca Tày Nội dung phản ánh và phạm vi từ vựng
1 Người và lực lượng siêu nhiên Từ ngữ chỉ cách xưng hô, quan hệ thân tộc, nhân vật nghi lễ (ông Then, bà Then, quan lang), thần linh, tổ tiên, Ngọc hoàng Thượng đế
2 Động vật và thực vật Từ ngữ chỉ các loài chim, muông thú, các loài cây cỏ, hoa lá gắn bó với núi rừng và đời sống nông nghiệp Việt Bắc
3 Đồ vật Từ ngữ chỉ nhạc cụ (đàn tính, xóc nhạc), trang phục (áo chàm, nón, khăn), đồ lễ cưới hỏi, nông cụ lao động
4 Sự vật vô sinh của thế giới tự nhiên Từ ngữ chỉ núi non, sông suối, biển cả, mây trời, sấm chớp, thời tiết và không gian núi rừng
5 Thời gian Từ ngữ chỉ mùa vụ, ngày giờ hoàng đạo, thời gian sinh hoạt, quá khứ và chu kì mùa màng
6 Sự vật hiện tượng khác Các từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái tâm lý, cảm xúc, hiện tượng xã hội và phong tục tập quán
  • Hệ thống biểu tượng ngôn ngữ: Luận án phân loại các hình ảnh tượng trưng thành hai nhóm biểu tượng chính:
    • Nhóm biểu tượng "vẻ đẹp, ước vọng": Các hình tượng hoa thơm, chim quý, mặt trời, ánh trăng, ngọc ngà... biểu trưng cho tình yêu trong sáng, sự tài hoa, đức hạnh và ước mơ cuộc sống no ấm, khang thái.
    • Nhóm biểu tượng "khó khăn, thử thách": Các hình tượng đèo cao, suối sâu, thác ghềnh, biển cả mịt mù, mưa gió... biểu trưng cho những trắc trở trong tình duyên, thử thách nghi lễ cưới xin và chặng đường gian nan của đoàn Then khi lên cõi Trời.
  • Giá trị phản ánh qua ngữ nghĩa: Chủ đề ca từ phản ánh thuần phong mỹ tục Tày; các trường nghĩa phản ánh chân thực bức tranh đời sống lao động, môi trường sinh thái tự nhiên vùng Đông Bắc; hệ thống biểu tượng ngôn ngữ phản ánh lối tri nhận thế giới quan, nhân sinh quan và cách ứng xử tinh tế, trọng tình của cộng đồng người Tày.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lí luận

  • Góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề lí luận của Phong cách học và Ngôn ngữ học văn bản khi tiếp cận ca từ văn nghệ dân gian của các dân tộc thiểu số trên hai bình diện hình thức cấu trúc và tổ chức ngữ nghĩa.
  • Cung cấp khung thao tác khoa học để nhận diện và khái quát hóa các đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật dân gian: mô hình tôn ti kết cấu văn bản, phân loại thể thơ, quy luật gieo vần, phân lập trường nghĩa và giải mã biểu tượng ngôn ngữ tộc người.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đóng góp nguồn tư liệu ngôn ngữ học xác thực phục vụ công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống và tiếng mẹ đẻ của dân tộc Tày trong giai đoạn hội nhập.
  • Đúc rút kinh nghiệm khoa học cho công tác sưu tầm, xử lý văn bản, phân tích ngữ nghĩa và nâng cao chất lượng biên dịch các tác phẩm văn nghệ dân gian song ngữ Tày - Việt.
  • Hệ thống danh mục từ vựng theo trường nghĩa và bảng biểu tượng ngôn ngữ (được tập hợp trong luận án và phần Phụ lục) cung cấp nguồn tư liệu trực tiếp để biên soạn Từ điển dân ca Tày hoặc Từ điển văn hóa cổ truyền Tày.
  • Làm tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ giảng dạy, nghiên cứu học phần văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở 3 thể loại tiêu biểu (lượn, quan lang, then), chưa bao quát toàn bộ các thể loại dân ca Tày khác như phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén noọng nòn hay đồng dao. Địa bàn thu thập ngữ liệu tập trung chính ở hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, chưa mở rộng đồng đều đến các địa bàn cư trú khác của người Tày như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lào Cai.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đặc điểm ngữ pháp, cú pháp, các biện pháp tu từ học chuyên sâu trong ca từ dân ca Tày; đối sánh ngôn ngữ dân ca Tày với dân ca của các dân tộc có quan hệ gần gũi như Nùng, Thái hoặc đối sánh với ca từ dân ca người Kinh (Việt).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các ngành Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Văn học dân gian, Dân tộc học; các nhà nghiên cứu văn hóa Tày - Thái; các nhà soạn từ điển tiếng dân tộc thiểu số và cán bộ phụ trách công tác chính sách, bảo tồn văn hóa vùng cao.
  • Nội dung giá trị nổi bật: Khung phân loại các đơn vị kết cấu văn bản dân ca (cuộc, chặng, khúc, lời), hệ thống bảng phân loại trường nghĩa từ vựng tiếng Tày và phương pháp giải mã biểu tượng ngôn ngữ văn bản nghệ thuật dân gian.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát ngữ liệu dân ca Tày từ những nguồn công trình xuất bản nào?

Luận án khảo sát ngữ liệu từ 4 công trình xuất bản song ngữ (tiếng Tày Latinh và chữ Quốc ngữ): Then Tày những khúc hát (Triều Ân chủ biên, 2000), Thơ ca dân gian xứ Lạng (Nguyễn Duy Bắc, 2001), Thơ quan lang (Nguyễn Thiên Tứ, 2008) và Lượn, phong slư dân ca trữ tình của người Tày xứ Lạng (Hoàng Tuấn Cư, 2018), phản ánh ba thể loại: lượn, quan lang và then tại Cao Bằng, Lạng Sơn.

2. Luận án xác lập hệ thống các đơn vị kết cấu văn bản dân ca Tày theo trật tự tôn ti nào?

Kết cấu văn bản dân ca Tày được luận án phân chia thành 6 bậc theo quan hệ bao hàm từ lớn đến nhỏ: Cuộc hát (đơn vị trọn vẹn của một lần diễn xướng), Chặng hát (khoảng phân định theo nội dung/chỗ dừng nghỉ), Khúc hát (đơn vị tương đương một bài ca nhỏ), Lời hát (chuỗi âm thanh trong một lượt lời), Đoạn hát (phần chức năng trong lời) và Câu hát (dòng ca từ mang tiết tấu).

3. Về mặt hình thức, dân ca Tày sử dụng những thể thơ và phương thức gieo vần nào?

Dân ca Tày sử dụng ba thể chính: thể năm tiếng (ngũ ngôn), thể bảy tiếng (thất ngôn) và thể hỗn hợp. Về phương thức gieo vần, luận án phân tích vần theo vị trí (vần lưng, vần chân, vần liền, vần cách, vần ôm, vần giao nhau, vần hỗn hợp) và theo tính chất vần (vần chính, vần thông, vần áp).

4. Hệ thống trường nghĩa từ vựng trong dân ca Tày được luận án chia thành những nhóm nào?

Từ vựng trong dân ca Tày được tập hợp thành 6 trường nghĩa cơ bản: (1) Người và lực lượng siêu nhiên, (2) Động vật và thực vật, (3) Đồ vật, (4) Sự vật vô sinh của thế giới tự nhiên, (5) Thời gian, và (6) Sự vật hiện tượng khác.

5. Biểu tượng ngôn ngữ trong dân ca Tày gồm những nhóm tiêu biểu nào và phản ánh điều gì?

Hệ thống biểu tượng ngôn ngữ được chia thành hai nhóm: nhóm biểu tượng "vẻ đẹp, ước vọng" (hoa thơm, trăng sáng, chim muông...) và nhóm biểu tượng "khó khăn, thử thách" (đèo dốc, sông sâu, biển cả...). Các biểu tượng này phản ánh lối tri nhận thế giới tự nhiên, tâm tư tình cảm và chuẩn mực ứng xử văn hóa của người Tày.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm ngôn ngữ trong dân ca Tày" của Lê Thị Như Nguyệt là công trình nghiên cứu hệ thống về ca từ dân ca Tày dưới góc nhìn chuyên biệt của Ngôn ngữ học. Công trình đã mô tả toàn diện diện mạo hình thức văn bản thông qua hệ thống kết cấu thứ bậc, thể thơ, vần điệu, cấu trúc hội thoại, đồng thời giải mã cấu trúc ngữ nghĩa qua các chủ đề, trường từ vựng và biểu tượng văn hóa đặc trưng của ba tiểu loại lượn, quan lang và then. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung lý luận cho Phong cách học và Văn bản học tiếng dân tộc thiểu số mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn giá trị cho việc biên soạn từ điển, giảng dạy và bảo tồn di sản ngôn ngữ, văn hóa Tày.