Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình sưu tầm và nghiên cứu về dân ca Tày từ góc độ văn hóa, văn học nghệ thuật 1. Tình hình sưu tầm, giới thiệu về văn bản dân ca Tày Năm 1973, Nhà xuất bản Việt Bắc in cuốn Dân ca đám cưới Tày - Nùng do Nông Minh Châu sưu tầm và biên dịch.
Tác giả đã tập hợp và biên dịch trên 100 khúc hát đám cưới Tày - Nùng. Trong Lời giới thiệu, tác giả Vi Quốc Bảo viết: “Những bài hát đó kéo dài suốt quá trình đám cưới và chỉ kết thúc khi các nghi thức đám cưới đã được thực hiện đầy đủ”., “các bài hát đám cưới là một yêu cầu về sinh hoạt văn hóa tinh thần - văn nghệ”., “giá trị của những bài hát đám cưới là đã phản ánh, miêu tả một cách sắc nét xã hội và đời sống của dân tộc Tày” [25, tr. Cung Văn Lược, Lê Bích Ngân (1987) biên soạn cuốn Lượn cọi Tày - Nùng [84]. Cuốn sách chủ yếu tập trung vào phần dịch thơ, khảo dị và chú thích về 62 bài hát lượn cọi được tuyển chọn từ các văn bản Nôm do nhóm tác giả sưu tầm.
Năm 1992, Nhà xuất bản Khoa học xã hội cho ra mắt bạn đọc Tổng tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam [159] do giáo sư Đặng Nghiêm Vạn chủ biên. Đây là tuyển tập văn học về công tác sưu tầm văn học thiểu số ở Việt Nam, trong quyển 3 nhóm tác giả có giới thiệu tới một số bài dân ca của người Tày. Vi Hồng (1993) đã xuất bản cuốn Khảm hải - Vượt biển [61] - một trong những khúc ca của lời hát then. Tác giả sưu tầm, giới thiệu đầy đủ văn bản Khảm hải bằng tiếng Tày và được dịch ra chữ Quốc ngữ.
Với tư cách là một nhà nghiên cứu văn học dân gian, Vi Hồng đã giới thiệu về tình hình văn bản và việc xử lí văn bản Khảm hải, đồng thời cũng nêu ra một số suy nghĩ về trường ca trữ tình Khảm hải của dân tộc Tày. Năm 1994, Hoàng Tuấn Cư, Vi Quốc Bình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc đã giới thiệu tác phẩm Then bách điểu [28] với 3.980 câu viết bằng chữ Nôm Tày và được nhóm tác giả dịch sang tiếng Việt. Năm 2018, Hoàng Tuấn Cư tiếp tục biên soạn cuốn Lượn, phong slư dân ca trữ tình của người Tày xứ Lạng [30]. Tác giả đã khái quát về hai loại dân ca trữ tình của người Tày ở Lạng Sơn là lượn, phong slư từ hình 6 thức, nội dung đến giá trị của chúng trong đời sống của người Tày nơi đây.
Đặc biệt, giới thiệu các văn bản lượn, phong slư nguyên văn tiếng Tày và dịch tiếng Việt. Tác giả giới thiệu tới bạn đọc 7.466 câu lượn dưới dạng song ngữ (chữ Tày, dịch sang chữ Quốc ngữ). Ngoài ra, ở phần cuối sách còn giới thiệu một số trang văn bản lượn Cọi chữ Nôm Tày. Hội Văn học nghệ thuật Bắc Thái (1996) in cuốn Thơ lẩu (Thơ đám cưới) [54].
Cuốn sách gồm 100 bài thơ lẩu (nguyên âm tiếng Tày, dịch thơ) được sưu tầm ở vùng Bạch Thông - Bắc Kạn. Triều Ân - chủ biên (2000) cuốn Then Tày những khúc hát [3] giới thiệu chung về then Tày và những khúc hát; tuyển dịch những khúc hát cầu chúc, lễ hội; những khúc hát then Dàng nguyên văn tiếng Tày - phiên âm từ bản Nôm; Năm 2011, tiếp tục ra mắt độc giả cuốn Lễ hội Dàng then [4], giới thiệu về lễ hội Dàng then, khúc hát phần lễ, khúc hát phần hội, khúc hát lễ hội Dàng then; Năm 2013, tác giả sưu tầm, phiên âm, dịch thuật cuốn Then giải hạn [5]. Sách gồm hai phần: Giới thiệu cái thực cuộc sống và cái ước mơ của dân gian cùng niềm khát vọng bình an khang thái trong then Tày giải hạn; văn bản then Tày giải hạn (bản dịch tiếng Việt, bản phiên âm tiếng Tày, bản Nôm nguyên văn). Năm 2001, trong cuốn Thơ ca dân gian xứ Lạng [9], Nguyễn Duy Bắc tuyển chọn, giới thiệu thơ ca dân gian của hai dân tộc Tày và Nùng ở Lạng Sơn.
Ở kho tàng thơ ca dân gian người Tày, tác giả sưu tầm bốn tiểu loại dân ca: Lượn slương, quan lang, phong slư, then ở hai dạng thức ngôn ngữ là tiếng Tày, tiếng Việt. Nguyễn Thiên Tứ (2008) xuất bản cuốn Thơ quan lang [155]. Tác giả tập sách đã sưu tầm, dịch, giới thiệu đến bạn đọc thơ quan lang của người Tày ở Cao Bằng với mong muốn góp thêm tư liệu vào kho tàng văn hóa dân gian dân tộc Tày Việt Nam. Ma Ngọc Hướng (2011) trong cuốn Hát quan làng trong đám cưới của người Tày Khao Hà Giang [65] đã khái quát về người Tày Khao và phong tục hát quan làng trong đám cưới của họ, đồng thời tác giả giới thiệu lời Tày, dịch lời Việt các ca khúc quan làng trong đám cưới của người Tày Khao ở các huyện Bắc Mê (48 bài), Quang Bình (10 bài), Bắc Quang (22 bài).
Năm 2012, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trong Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam đã xuất bản cuốn Lượn Tày [55]. Cuốn 7 sách gồm hai phần: Thứ nhất, Lượn Tày Lạng Sơn do Hoàng Văn Páo (chủ biên) cùng các cộng sự giới thiệu các bài hát lượn ở vùng Lạng Sơn; Thứ hai, Lượn slương do Phương Bằng, Lã Văn Lô sưu tầm, phiên âm, dịch. Tống Đại Hồng, Lương Long Vân, Ma Văn Đức (2015) biên soạn cuốn Văn quan làng Tuyên Quang [57] giới thiệu 162 bài hát quan làng trong lễ cưới của người Tày ở Tuyên Quang, gồm: 130 bài của bên nhà trai, 32 bài của bên nhà gái, được thể hiện ở ba dạng thức chữ viết: chữ Nôm Tày, chữ Tày latinh và dịch ra chữ Quốc ngữ. Năm 2016, Ma Văn Vịnh, Nguyễn Văn Quyền xuất bản hai tập sách Các bài hát then nghi lễ cấp sắc tăng sắc của người Tày Bắc Kạn [169].
Các tác giả đã sưu tầm, phiên âm, dịch nghĩa, giới thiệu 82 bài hát dùng trong lễ cấp sắc (hoặc tăng sắc) của người Tày vùng Bắc Kạn. Trong đó, quyển 1 giới thiệu và phiên âm tiếng Tày, quyển 2 là dịch nghĩa sang tiếng Việt. Bên cạnh đó, có thể kể tới một loạt các tác phẩm về văn bản dân ca Tày đã được sưu tầm và xuất bản: - Lục Văn Pảo (1985), Thơ đám cưới Tày, Nxb Khoa học xã hội. - Phương Bằng, Lã Văn Lô (1992), Lượn slương, Nxb Văn hóa dân tộc.
- Hoàng Thị Quỳnh Nha (2003), Sli lượn hát đôi của người Tày - Nùng ở Cao Bằng, Nxb Văn hóa Thông tin. - Hoàng Tuấn Cư (2016), Khỏa quan: những bài lượn trong nghi lễ cấp sắc, thăng sắc của người Tày Lạng Sơn, Nxb Sân khấu. - Nông Phúc Tước - chủ biên (2017), Then bách hoa, bách điểu, bắt ve sầu, Nxb Hội Nhà văn. - Mông Ký Slay, Lê Chí Quế, Hoàng Huy Phách, Nông Minh Châu (2018), Dân ca Tày - Nùng, Nxb Hội Nhà văn.
Nhận xét: - Nguồn tư liệu văn bản dân ca Tày được các nhà nghiên cứu sưu tầm tương đối có hệ thống, được sắp xếp theo trình tự diễn tiến của buổi diễn xướng. Các văn bản được sưu tầm ở nhiều vùng miền khác nhau, nơi cư trú tập trung của đồng bào Tày như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang,. - Các ấn phẩm sưu tầm, biên dịch đã cung cấp nguồn ngữ liệu rất phong phú về dân ca Tày cho việc tìm hiểu nhiều mặt về loại hình nghệ thuật dân gian dân tộc Tày. 8 Đối với Ngôn ngữ học, đây là nguồn ngữ liệu vô cùng quý giá để tìm hiểu ngôn ngữ dân ca Tày.
Tình hình nghiên cứu dân ca Tày Dân ca Tày đã được biết đến từ rất sớm với những làn điệu lượn, then, phong slư, quan lang, phuối pác, phuối rọi, vén noọng nòn. Năm 1974, trong cuốn Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc [101], các nhà nghiên cứu đã có những tìm hiểu đa diện về đời sống văn hóa, tinh thần, nội dung, hình thức, những giá trị trong bước đầu khảo cứu dân ca Tày, Nùng. Lường Văn Thắng với bài viết “Tìm hiểu nội dung của một số bài thơ quan lang”. Vi Quốc Bảo có bài viết “Những bài ca đám cưới - những bài thơ trữ tình”.
Nông Minh Châu có bài “Khảm hải - một tác phẩm văn học cổ của dân tộc Tày”. Ngoài ra, trong cuốn sách còn có một số bài viết của nhà văn Vi Hồng: “Vài ý nghĩ nhỏ bước đầu về thơ ca dân tộc Tày - Nùng”, “Thử tìm hiểu về nội dung của lượn”. Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vi Hồng trong cuốn Sli, lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng (xuất bản năm 1979) [60] đã giới thiệu về đời sống văn hóa, tinh thần của hai dân tộc Tày, Nùng qua làn điệu dân ca sli, lượn, phong slư cùng với đề tài, nội dung tư tưởng, ý nghĩa thẩm mĩ, cách xây dựng hình tượng trong các thể loại này. Năm 1976, trong bài viết “Vài suy nghĩ về hát quan lang, phong slư, lượn” [59] đăng trên Tạp chí Văn học, tác giả Vi Hồng đã giới thiệu khái quát về ba tiểu loại dân ca phổ biến của người Tày và Nùng: nguồn gốc, nội dung tổ chức, hình thức lề lối cơ bản.
Cuốn Mấy vấn đề về then Việt Bắc (1978) [102] là tập hợp các báo cáo, tham luận của Hội nghị công tác sưu tầm nghiên cứu về then được tổ chức tại Thái Nguyên. Các bài viết tập trung bàn luận về nguồn gốc, loại hình, nghệ thuật diễn xướng, hiện thực sinh hoạt, tín ngưỡng. trong then ở một số tỉnh khu vực Đông Bắc: Lạng Sơn, Bắc Thái, Cao Bằng, Hà Giang từ trước năm 1978. Năm 1983, trong giáo trình Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam [108], tác giả Võ Quang Nhơn đã tổng hợp, so sánh, nghiên cứu về thơ ca dân gian các dân tộc ít người, trong đó có dân ca Tày.
Trong cuốn Lẩu Then bjoóc mạ của người Tày huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (1999) [26], Hoàng Đức Chung đã trình bày khái quát 7 loại Then của dân tộc Tày ở tỉnh Hà Giang: cầu mong, chữa bệnh, bói toán, tống tiễn, cầu mùa, chúc tụng, cấp sắc. Tác giả đi sâu giới thiệu các bước trong lẩu Then bjoóc mạ ở bản Ping gồm: mời 9 Chúa Then, hành trình qua các chặng của đoàn Then. Từ đó, tác giả tiến hành đánh giá về lẩu Then bjoóc mạ trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày ở bản Ping, đồng thời đề xuất một số biện pháp bảo tồn giá trị của lẩu Then bjoóc mạ.