So sánh cấu trúc và ngữ nghĩa thành ngữ có yếu tố động vật trong tiếng Việt và ngôn ngữ Tày-Thái

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh so sánh cấu trúc ngữ nghĩa các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng việt với, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2008

164
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1. Nhóm ngôn ngữ Tày-Thái ở Việt Nam

1.2. Một số vấn đề chung liên quan đến thành ngữ

1.3. Quan niệm về thành ngữ

1.4. Phân biệt thành ngữ với các đơn vị khác

1.4.1. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

1.4.2. Phân biệt thành ngữ với quán ngữ

1.4.3. Phân biệt thành ngữ với từ ghép

1.4.4. Phân biệt thành ngữ với ca dao và dân ca

1.5. Hướng nghiên cứu thành ngữ trong luận văn

1.6. Hướng phân loại và tiêu chí phân loại thành ngữ có yếu tố chỉ động vật

2. CHƯƠNG 2: SO SÁNH CẤU TRÚC THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG VIỆT VỚI MỘT SỐ NGÔN NGỮ NHÓM TÀY-THÁI Ở VIỆT NAM

2.1. Thành tố tham gia cấu tạo thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và ngôn ngữ nhóm Tày-Thái (trên cứ liệu thành ngữ Tày-Nùng)

2.2. So sánh cấu trúc thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và ngôn ngữ nhóm Tày-Thái (trên cứ liệu thành ngữ Tày-Nùng)

2.2.1. Thành ngữ so sánh có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng

2.2.2. Đặc điểm thành ngữ so sánh

2.2.3. Cấu trúc thành ngữ so sánh có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng

2.2.3.1. Cấu trúc A như B
2.2.3.2. Cấu trúc Như B
2.2.3.3. Cấu trúc AB

2.2.4. Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng

2.2.4.1. Đặc điểm thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng
2.2.4.2. Cấu trúc thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng

2.2.5. Các thành tố cấu tạo nên thành ngữ có quan hệ chủ-vị

2.2.6. Các thành tố cấu tạo nên thành ngữ có quan hệ chính phụ

2.2.7. Các thành tố cấu tạo nên thành ngữ có quan hệ đẳng lập

2.2.8. Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng

2.2.8.1. Đặc điểm thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng
2.2.8.2. Cấu trúc thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng

2.2.9. Thành tố cấu tạo nên thành ngữ có quan hệ chủ-vị

2.2.10. Thành ngữ có kết cấu cụm danh từ

2.2.11. Thành ngữ có kết cấu cụm động từ

2.2.12. Thành ngữ có kết cấu cụm tính từ

2.3. So sánh ngữ nghĩa các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt với một số ngôn ngữ Nhóm Tày-Thái ở Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: SO SÁNH NGỮ NGHĨA THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ ĐỘNG VẬT TRONG TIẾNG VIỆT VỚI MỘT SỐ NGÔN NGỮ NHÓM TÀY-THÁI Ở VIỆT NAM

3.1. Thành ngữ có yếu tố chỉ động vật phản ánh những đặc điểm, thuộc tính của con người

3.1.1. Về hình dáng con người

3.1.2. Về tính cách, tính nết con người

3.1.3. Về cử chỉ, điệu bộ con người

3.1.4. Về hoạt động con người

3.1.5. Về di chuyển

3.1.6. Về nhận thức, trí tuệ của con người

3.1.7. Về thân phận con người

3.1.8. Về quan hệ giữa người với người

3.1.9. Về tình trạng, tình thế của con người

3.2. Thành ngữ có yếu tố chỉ động vật phản ánh cuộc sống của con người

3.2.1. Về sự giàu có sang trọng

3.2.2. Về cảnh nghèo hèn, túng bấn

3.3. Thành ngữ có yếu tố chỉ động vật phản ánh kinh nghiệm sống

3.4. Biểu trưng ngữ nghĩa qua thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và ngôn ngữ nhóm Tày-Thái (trên cứ liệu thành ngữ Tày-Nùng)

3.4.1. Tần số và phân nhóm các con vật trong thành ngữ

3.4.1.1. Tần số các con vật trong thành ngữ
3.4.1.2. Phân nhóm các con vật trong thành ngữ

3.4.2. Một con vật liên tưởng đến nhiều sự vật, hiện tượng trong cuộc sống

3.4.3. Một sự vật, hiện tượng được liên tưởng bằng nhiều con vật

3.4.4. Những giá trị biểu trưng qua một số con vật tiêu biểu trong thành ngữ

3.4.4.1. Giá trị biểu trưng của chó
3.4.4.2. Giá trị biểu trưng của trâu
3.4.4.3. Giá trị biểu trưng của hổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về cấu trúc ngữ nghĩa thành ngữ động vật trong tiếng Việt và Tày Thái

Thành ngữ động vật là một phần quan trọng trong ngôn ngữ và văn hóa của mỗi dân tộc. Trong tiếng Việt và ngôn ngữ Tày-Thái, thành ngữ không chỉ phản ánh đặc điểm văn hóa mà còn thể hiện tư duy và cách nhìn nhận thế giới của người dân. Việc so sánh cấu trúc ngữ nghĩa của các thành ngữ này giúp hiểu rõ hơn về sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào các thành ngữ có yếu tố chỉ động vật, từ đó làm nổi bật những đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ của từng dân tộc.

1.1. Đặc điểm chung của thành ngữ động vật trong tiếng Việt

Thành ngữ động vật trong tiếng Việt thường mang tính hình tượng cao, thể hiện sự liên tưởng phong phú giữa con người và động vật. Các thành ngữ này không chỉ đơn thuần là những câu nói mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa sâu sắc. Ví dụ, thành ngữ "gà chạy long tong" không chỉ mô tả hành động mà còn phản ánh sự lộn xộn trong cuộc sống.

1.2. Đặc điểm thành ngữ động vật trong ngôn ngữ Tày Thái

Trong ngôn ngữ Tày-Thái, thành ngữ động vật cũng mang những đặc điểm riêng biệt. Chúng thường phản ánh những kinh nghiệm sống và tri thức dân gian của người Tày-Thái. Ví dụ, thành ngữ "cáy tôc bôm khẩu slan" thể hiện sự may mắn, cho thấy cách mà người Tày-Nùng liên kết giữa động vật và cuộc sống hàng ngày.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thành ngữ động vật

Nghiên cứu thành ngữ động vật trong tiếng Việt và Tày-Thái gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt tài liệu và nghiên cứu sâu về thành ngữ của các dân tộc thiểu số. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc so sánh và phân tích cấu trúc ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ. Hơn nữa, sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ cũng tạo ra những rào cản trong việc hiểu và diễn giải các thành ngữ.

2.1. Thiếu hụt tài liệu nghiên cứu

Nhiều thành ngữ trong ngôn ngữ Tày-Thái chưa được ghi chép và nghiên cứu đầy đủ. Điều này làm cho việc so sánh với tiếng Việt trở nên khó khăn. Các tài liệu hiện có chủ yếu là sưu tầm, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống và có chiều sâu.

2.2. Khác biệt văn hóa và ngôn ngữ

Sự khác biệt trong văn hóa và ngôn ngữ giữa các dân tộc cũng tạo ra những thách thức trong việc hiểu và diễn giải thành ngữ. Các thành ngữ có thể mang ý nghĩa khác nhau trong từng ngữ cảnh văn hóa, điều này đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về cả hai nền văn hóa.

III. Phương pháp nghiên cứu thành ngữ động vật hiệu quả

Để nghiên cứu thành ngữ động vật trong tiếng Việt và Tày-Thái, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh. Những phương pháp này giúp phân tích cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ một cách hệ thống và có chiều sâu.

3.1. Phương pháp thống kê trong nghiên cứu

Phương pháp thống kê giúp xác định số lượng và tần suất xuất hiện của các thành ngữ động vật trong cả hai ngôn ngữ. Việc này cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phong phú và đa dạng của thành ngữ trong từng ngôn ngữ.

3.2. Phương pháp so sánh và đối chiếu

Phương pháp so sánh và đối chiếu giúp làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt giữa thành ngữ động vật trong tiếng Việt và Tày-Thái. Qua đó, người nghiên cứu có thể rút ra những kết luận về ảnh hưởng văn hóa và ngôn ngữ giữa hai dân tộc.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu thành ngữ động vật

Nghiên cứu thành ngữ động vật không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Việc hiểu rõ về thành ngữ giúp nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, từ đó góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

4.1. Bảo tồn văn hóa dân tộc

Nghiên cứu thành ngữ động vật giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. Những thành ngữ này chứa đựng tri thức và kinh nghiệm sống của người dân, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc.

4.2. Giáo dục và nâng cao nhận thức

Việc giảng dạy và phổ biến kiến thức về thành ngữ động vật trong tiếng Việt và Tày-Thái có thể giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa và ngôn ngữ. Điều này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo ra sự kết nối giữa các thế hệ.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu thành ngữ động vật

Nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa thành ngữ động vật trong tiếng Việt và Tày-Thái mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên cứu ngôn ngữ học. Những kết quả đạt được không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phát triển các công trình nghiên cứu sâu hơn về thành ngữ của các dân tộc thiểu số.

5.1. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn về thành ngữ động vật trong các ngôn ngữ khác nhau, từ đó tạo ra một bức tranh tổng thể về sự đa dạng ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

5.2. Tăng cường hợp tác nghiên cứu

Việc hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước sẽ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu và tạo ra những công trình có giá trị hơn về thành ngữ động vật trong tiếng Việt và Tày-Thái.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh so sánh cấu trúc ngữ nghĩa các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng việt với một số ngôn ngữ nhóm tày thái ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung 1. Nhóm ngôn ngữ Tày-Thái ở Việt Nam Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái ở Việt Nam có số dân 3.090 người (theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê 01/04/1999) tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Đây là vùng núi cao, sườn dốc, sông suối nhiều, khí hậu khắc nghiệt lại bị bao bọc bởi những dãy núi cao tạo ra những tiểu vùng văn hóa địa lý riêng biệt. Trong đó, vùng văn hóa Tây Bắc có địa hình núi cao hiểm trở với dãy Hoàng Liên Sơn sừng sững mà người Thái gọi là “Khau phạ” (Sừng trời) nằm bên phải con sông Hồng, tổ tiên người Thái gọi là Nặm Tao liên quan tới lịch sử thiên di của người Thái đen vào Tây Bắc Việt Nam.

Đây cũng là vùng tập trung dân cư chủ yếu của người Thái, ngoài ra còn có người Bố Y, người Lự và người Lào (cùng thuộc nhóm Tày-Thái). Cũng thuộc vùng núi phía bắc còn có vùng Đông Bắc với cấu trúc theo kiểu hình cánh cung tụ lại ở Tam Đảo và mở ra ở phía Bắc và Đông Bắc. Đồi núi ở đây thuộc độ cao trung bình với hệ thống sông ngòi đặc trưng có độ dốc cao, lòng sông lớn, dòng chảy mạnh. Cư dân chủ yếu ở đây là người Tày và người Nùng sống đan xen và ảnh hưởng nhiều yếu tố văn hóa lẫn nhau.

Từ những đa dạng của môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên trên là yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa trong khu vực. Theo Trần Trí Dõi [14;145], nhóm ngôn ngữ Tày-Thái được chia thành hai tiểu nhóm nhỏ là Nhóm Tày (nhóm Thái trung tâm) và nhóm Thái (nhóm Thái Tây Nam). Nhóm Tày gồm có 3 dân tộc: Tày (1.514 người), Nùng (856.412 người) và Bố Y (1864 người); Nhóm Thái cũng có 3 dân tộc là Thái (1.725 người), Lào (11.611 người) và Lự (4964 người). Về lịch sử, thì từ khoảng bốn năm nghìn năm nay các nhóm dân tộc Tày-Thái đã từng giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử miền Nam Trung Quốc, họ đã sáng tạo nên nền văn hóa của mình và đã truyền bá ảnh hưởng văn hóa đó đến các dân tộc xung quanh [64;372].

Khi thiên di xuống Việt Nam thì các dân tộc này diễn ra không đồng đều mà ở các giai đoạn và lịch sử khác nhau. Về ngôn ngữ. Cả 6 dân tộc này đều nói ngôn ngữ nhóm Tày-Thái (ngữ hệ Thái- Ka Đai) thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Trong đó có dân tộc Tày, Nùng, Thái và Lào đều có chữ viết cổ, chỉ có dân tộc Lự và Bố Y là không có chữ viết.

Chữ viết của dân tộc Lào ở Việt Nam về cơ bản có cùng chữ viết với đồng tộc là chủ thể ở nước Lào [14;211]. Còn người Thái là một dân tộc khá thống nhất trong các dân tộc thiểu số Việt Nam, họ có nền văn hóa, kinh tế,. phát triển từ rất lâu nên người Thái có văn tự cổ cho riêng họ với bốn loại chữ viết khác nhau là loại chữ Thái của người Thái Đen, Thái Trắng ở vùng Tây Bắc; Chữ Thái của người Thái Thanh hay Man Thanh ở vùng Thanh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hóa, Nghệ An; Chữ Thái của người Thái ở Quỳ Châu và chữ Lai Pao. Với dân tộc Tày và Nùng thì chữ viết của họ sử dụng Hán tự để ghi tiếng nói của mình, hay gọi là chữ Nôm Tày, chữ Nôm Nùng.

Riêng về tiếng Nùng còn một số ý kiến chưa thống nhất. Một số người cho rằng ngôn ngữ này chưa có văn tự cổ mặc dù người Nùng có một hệ thống văn học dân gian phát triển; nhưng một số ý kiến khác cũng lại cho rằng người Nùng cũng có chữ Nôm Nùng, giống như chữ Nôm Tày. Tuy nhiên, đa số ý kiến cho rằng tiếng Tày và tiếng Nùng là một ngôn ngữ thống nhất. Với mục tiêu bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số nên năm 1961, Nhà nước đã ban hành hệ thống văn tự Tày-Nùng theo mẫu tự La tinh và đưa vào cho người Tày-Nùng sử dụng từ đó cho đến ngày nay [14;50].

Như vậy, để đáp ứng các yêu cầu giúp cho người dân tộc mau chóng xóa nạn mù chữ, tiếp thu những thuận lợi về kiến thức văn hóa, khoa học và kỹ thuật, đồng thời nhằm giúp đỡ người dân tộc có thể học được nhanh tiếng phổ thông, thúc đẩy sự nghiệp phát triển văn hóa, văn nghệ của dân tộc mình, Hội đồng chính phủ đã phê chuẩn (theo số 153-CP ngày 20 tháng 8 năm 1969) chữ Tày-Nùng và chữ Thái cải tiến từ thứ chữ cổ sang mẫu tự La tinh. Nó đã góp phần gìn giữ và làm giàu thêm nền văn hóa của các dân tộc này, từ đó thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt trong đời sống xã hội của người dân tộc. Cuộc cải cách này đã đem lại được những kết quả khả quan cho việc học tiếng của người dân tộc đồng thời đem lại những thuận lợi cho người muốn tìm hiểu, nghiên cứu ngôn ngữ của các dân tộc này qua hệ thống chữ La tinh. Từ đó mở ra được những những hướng nghiên cứu liên ngành, đa ngành trong so sánh, đối chiếu về ngôn ngữ giữa các dân tộc với nhau mà trước đây chưa có điều kiện tìm hiểu sâu.

Qua đó nhiều nét văn hóa được vén mở qua ngôn ngữ của các dân tộc này. Để thấy được vị trí nhóm ngôn ngữ Tày-Thái trong họ Thái-Kađai và các ngôn ngữ có mặt ở Việt Nam, chúng tôi dựa theo sơ đồ của M. Ferlus [14;44] được khái quát như sau: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếng Tiểu họ Ka - đai Nhóm La Chí Ka -đai Tiếng La Ha Họ Thai - Tiếng Kadai Pu Péo Tiếng Cơ Lao Day- Nhóm Tiếng Giáy Sec Day Tiếng Sán Tiểu họ Bê- Thai- Cao- Nhóm Chay Kam-Thai Thai Day Lan Cao Lan Tiếng Thái- Nhóm Tày Tay Tày Tiếng Nùng Tiếng Bố Y Nhóm Tiếng Thái Thái Tiếng Lào Tiếng Lự 1. Một số vấn đề chung liên quan đến thành ngữ Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thành ngữ.

Bởi thành ngữ là kho tàng đồ sộ của cả dân tộc đúc kết nên mà không phải ngày một ngày hai là có được. Nó là kết quả 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của quá trình chắt lọc tinh hoa văn hóa của mỗi tộc người, của mỗi thế hệ xây đắp nên. Và thành ngữ còn phản ánh cả một hệ tư duy liên tưởng về thế giới quan của mỗi dân tộc. Như nói đến sự may mắn của một người nào đó được vào nơi sung sướng, đầy đủ một cách tình cờ, ngẫu nhiên thì người Tày-Nùng có thành ngữ Cáy tôc bôm khẩu slan (gà rơi mâm gạo) còn người Kinh thì có Chuột sa chĩnh gạo.

Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu kỹ lưỡng về thành ngữ tiếng Tày-Nùng. Vì vậy chúng tôi không có cơ sở để so sánh hay bình luận về những quan điểm, ý kiến của các nhà nghiên cứu đưa ra về thành ngữ Tày-Nùng trên khía cạnh lý thuyết để so sánh đối chiếu những khái niệm của các nhà Việt ngữ học. Phần lớn các công trình khác nghiên cứu về tiếng Tày-Nùng đều dựa trên những thành tựu nghiên cứu tiếng Việt để nghiên cứu. Mặc dù nằm trong hai họ ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau nhưng tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng lại thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình, trong cuốn Tay- Nung language in the north of Vietnam của Đoàn Thiện Thuật, tác giả cũng khẳng định tiếng Tày-Nùng giống như tiếng Việt hiện đại “.

they are similar to modern Vietnamese” [58,15]. Những đặc điểm về loại hình giữa hai ngôn ngữ được mô tả khá rõ bằng các ví dụ sau [15,23]: Vấn đề đầu tiên đề cập đến đó là từ không bao giờ biến hình. Điều này được chứng minh rõ khi chúng ta so sánh giữa tiếng Việt, Tày-Nùng và tiếng Anh (tiếng Anh thuộc loại hình ngôn ngữ hòa kết): Tiếng Việt gà con gà mấy con gà Tiếng Tày-Nùng cáy tua cáy bai tua cáy Tiếng Anh chicken chicken chickens Quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa ngữ pháp được biểu thị chủ yếu bằng hư từ và trật tự từ như: Dùng hư từ: Tiếng Việt: nói - đừng nói, chưa nói Tiếng Tày-Nùng: cạ (nói) - dá cạ, páy cạ (đừng nói, chưa nói),. Dùng trật tự từ: Tiếng Việt : nhà cửa - cửa nhà ; nhà cháy - cháy nhà Tiếng Tày-Nùng: vài kin (trâu + ăn = trâu ăn) - kin vài (ăn trâu); Chào lao (anh + sợ = anh sợ), lao chào (sợ anh),.

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về tính phân tiết. ở cả tiếng Việt và tiếng Tày-Nùng thì ranh giới các âm tiết thường trùng với ranh giới các hình vị. Và cuối cùng là từ có ý nghĩa đối tượng, tính chất, hành động. không phân biệt nhau về mặt cấu trúc.

Tất cả đều được diễn đạt bằng từ không biến đổi như: tiếng Việt: đường (đường đi) và đường (đường ăn). Từ những đặc điểm mô tả trên, chúng tôi thấy giữa tiếng Việt và Tày-Nùng có nhiều đặc điểm về loại hình giống nhau để có thế chấp nhận đưa ra những lý luận chung về thành ngữ cho cả hai ngôn ngữ. Quan niệm về thành ngữ Cho đến nay, quan niệm về thành ngữ vẫn chưa được thống nhất, còn nhiều ý kiến băn khoăn và trăn trở về nó. Đã có nhiều cuộc tranh luận diễn ra giữa các nhà Việt ngữ học xoay quanh vấn đề thành ngữ.

Nguyễn Văn Mệnh (1972) đã đưa ra ranh giới giữa thành ngữ với tục ngữ từ đó đưa ra những tiêu chí nhận diện về thành ngữ như: Về nội dung, thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ mang tính chất hiện tượng; về hình thức ngữ pháp, nói chung thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Nguyễn Thiện Giáp (1975) đưa ra khái niệm thành ngữ tiếng Việt: Thành ngữ cũng là đơn vị định danh, cũng là tên gọi của một sự vật, hiện tượng, là sự thể hiện của một khái niệm (có tính thống nhất về nghĩa), đồng thời cái nghĩa cộng lại của các thành tố theo quy luật cú pháp cũng cần được hiểu (tính tách rời về nghĩa). nghĩa chung của thành ngữ bao giờ cũng là nghĩa hình tượng [19,50]. Tiếp tục công việc này, trong những năm gần đây cũng có một số tác giả quan tâm đến chúng như [34,9]: Vũ Đức Nghiệu, Vũ Quang Hào, Nguyễn Đức Tồn, Triều Nguyên, Nguyễn Như ý, Nguyễn Xuân Hoà,.

với nhiều hướng khác nhau thể hiện những băn khoăn của mình trước một kho tàng đồ sộ thành ngữ của cả dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "So sánh cấu trúc ngữ nghĩa thành ngữ động vật trong tiếng Việt và ngôn ngữ Tày-Thái" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng thành ngữ liên quan đến động vật giữa tiếng Việt và ngôn ngữ Tày-Thái. Bài viết không chỉ phân tích cấu trúc ngữ nghĩa mà còn khám phá ý nghĩa văn hóa và xã hội của các thành ngữ này, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh tư duy và phong tục tập quán của các dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ so sánh trong thành ngữ tục ngữ ca dao dân tộc tày, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về các thành ngữ và tục ngữ trong ngôn ngữ Tày. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hay thành ngữ có yếu tố mặt trong tiếng việt có đối chiếu với tiếng thái sẽ giúp bạn so sánh các yếu tố ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ này. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ trong dân ca tày sẽ mang đến cái nhìn tổng quát về ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc Tày, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.