mở đầu, các đoạn thoại phát triển nội dung hội thoại (tham thoại) và đoạn thoại kết thúc. Tuy nhiên, những cuộc thoại không điển hình có thể thiếu một đoạn thoại nào đó. Như vậy hội thoại là sự trao đáp giữa hai hoặc nhiều người với nhau nói ít thì là cặp thoại tức chỉ một lời được trao đi đáp lại còn nhiều hơn là những cuộc thoại. Đơn vị nhỏ nhất của hội thoại là lượt lời, có thể nói lượt lời là cơ cở để hình thành hội thoại cặp thoại hay cuộc thoại,có thể là để giải trí hoặc có thể là có đích nào đấy.
SV: Lê Văn Thắng 9 Lớp: K15 – ĐHSP Ngữ Văn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Mai Thị Hảo Yến 1.3 Lịch sự trong hội thoại 1.1 Khái niệm Trong cuộc hội thoại lịch sự là vấn đề quan trọng cần phải có bởi nó thể hiện nét văn hóa thể hiện phẩm chất, tính cách của người đó như thế nào. Chẳng hạn con người giao tiếp với nhau một cách sỗ sang, không có trên dưới bất lịch sự thì thể hiện một con người thiếu văn hóa,… có nhiều định nghĩa khác nhau về lịch sự, theo đó lịch sự là: - Những chiến lược nhằm duy trì hay thay đổi quan hệ liên cá nhân. - Lịch sự được xem như là một (hay một loạt chiến lược) được người nói sử dụng để hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa.
- Có thể định nghĩa lịch sự là phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn (…); Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác thuận lợi. Từ các quan niệm trên chúng ta có thể chấp nhận cách hiểu sau của C.Orecchioni: khái niệm lịch sự bao trùm tất cả phương diện của diễn ngôn bị chi phối bởi các quy tắc có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân.2 Các lí thuyết về lịch sự Trong cuốn Ngữ dụng học Đỗ Hữu Châu đưa ra ba quan điểm tương đối hoàn chỉnh về lịch sự thường được nói đến và có hiệu quả nhất. Đó là quan điểm của R.Leech và của P. Tuy nhiên chúng ta quan tâm đến quan điểm của Lakoff và Leech.
Lịch sự là những quy tắc đối với quan hệ liên cá nhân. Theo Lakoff, có 3 quy tắc lịch sự cơ bản: Thứ nhất là quy tắc lịch sự quy thức. Đó là quy tắc: Không được áp đặt. Quy tắc này thích hợp với những ngữ cảnh trong đó giữa những người tham gia tương tác có những khác biệt được nhận biết về quyền lực và cương vị như giữa sinh viên và chủ nhiệm khoa, giữa công nhân và phó giám đốc nhà máy phụ SV: Lê Văn Thắng 10 Lớp: K15 – ĐHSP Ngữ Văn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Mai Thị Hảo Yến trách tổ chức. Áp đặt với H có nghĩa làm cho H không thể hành động như H muốn. Không áp đặt có nghĩa là không ngăn cản H hành động theo ý muốn của mình. Người nói S lịch sự theo quy tắc này sẽ tránh, làm dịu bớt, hoặc xin phép, xin lỗi H khi buộ người đối thoại H phải làm điều mà H không muốn làm tránh cả những hành động khiến H xao lãng điều H đang làm hay đang nghĩ tới sau khi S nói với H.
Lịch sự quy thức có tính phi cá nhân. S sẽ lựa chọn các hành động của mình sao cho giảm tối thiểu các mức độ mà S áp đặt với H bằng cách buộc H nhận biết rằng S và H đều là những con người với nhược điểm và những kinh nghiệm mà ai cũng có và do đó không đối xử như đối xử với những vật thể không cảm xúc. Do vậy không áp đặt cũng có nghĩa là không đưa ra mà cũng không dò tìm quan điểm riêng tư, tránh đả động đến những cái riêng của cá nhân, tránh đề cập đến gia đình,… [3; 258]. Tóm lại theo thuyết này khi giao tiếp con người phải giảm tối thiểu sự xung đột áp đặt của mình với người tham gia đối thoại để tránh xung đột.
Thứ hai, quy tắc phi quy thức hơn. Đó là quy tắc: Dành cho người đối thoại sự lựa chọn. Đó là quy tắc thích hợp với những ngữ cảnh trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị gần tương đương với nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội, thí dụ giữa thương nhân và khách hàng mới, giữa hai người không quen biết trong cùng một phòng bệnh,… Dành cho sự lựa chọn có nghĩa là bày tỏ ý kiến sao cho ý kiến hay lời thỉnh cầu có thể không được biết đến mà không bị phản bác hay từ chối. Thứ ba, quy tắc về phép lịch sự bạn bè hay thân cận.
Đó là quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè. Quy tắc này thích hợp với những bạn bè gần gũi hoặc thực sự thân mật với nhau. Ngay cả những người yêu nhau cũng phải đối xử với nhau theo những chuẩn mực “ lịch sự” nào đó, bằng chứng là khi hai vợ chồng hoặc hai người bạn bắt đầu đối xử với nhau theo các hành vi lịch sự quy thức thì có nghĩa là quan hệ giữa họ bắt đầu rạn nứt. Trong phép lịch sự thân tình hầu như tất cả đều có đề tài đều có thể được đem ra mà trò chuyện.
Theo quy tắc này SV: Lê Văn Thắng 11 Lớp: K15 – ĐHSP Ngữ Văn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Mai Thị Hảo Yến thì: “Đã là bạn bè với nhau thì không có gì phải giấu giếm nhau nữa cả”. Nói trung trong phép lịch sự thứ ba này, người ta không phải “uốn lưỡi”. Trái ngược với phép lịch sự phi quy thức, nguyên tắc chi phối ở đây không chỉ dừng ở chỗ tỏ ra quan tâm thực sự đến nhau mà còn phải tỏ ra săn sóc nhau, tin cậy nhau bằng cách “thổ lộ hết tâm can”,… đối với nhau của mỗi người.
Những người đối thoại phép lịch sự này thường dùng các từ xưng hô thân thuộc, kể cả biệt danh, những lời chửi thề,… Quy tắc lịch sự của G.Leech gồm một siêu quy tắc vàcác phương châm và tiểu phương châm. Siêu quy tắc lịch sự của Leech như sau: (Trong những điều kiện khác như nhau) hãy giảm thiểu biểu hiện của những niềm tin không lịch sự; (trong những điều kiện khác như nhau) hãy tăng tối đa biểu hiện của những niềm tin lịch sự. Các phương châm: Phương châm khéo léo Giảm thiểu tổn thất cho người Tăng tối đa lợi ích cho người - Phương châm rộng rãi Giảm thiểu lợi ích cho ta Tăng tối đa tổn thất cho ta - Phương châm tám thưởng Giảm thiểu sự chê bai đối với người Tăng tối đa khen ngợi người - Phương châm khiêm tốn Giảm thiểu khen ngợi ta Tăng tối đa sự chê bai ta - Phương châm tán đồng Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người SV: Lê Văn Thắng 12 Lớp: K15 – ĐHSP Ngữ Văn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Mai Thị Hảo Yến - Phươg châm thiện cảm Giảm thiểu ác cảm giữa ta và người Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người Những phương châm của Leech giúp ta lí giải cách nói giảm khi chúng ta chê hoặc nhờ vả ai đó.
Theo Leech, những phương châm trên có tính chuyên dụng đối với những hành vi ở lời nhất định.Từ xưng hô và các tiểu loại từ xưng hô 1. Khái niệm xưng hô và từ xưng hô Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được thực hiện trong giao tiếp ở tất cả các cộng đồng người. Theo Từ điển tiếng Việt [Hoàng Phê, 1997] thì xưng hô là ''tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau''. Xưng hô là một bộ phận của lời nói.
Nó được biểu thị qua giao tiếp giữa con người với con người trong xã hội. Xưng là một hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào cuộc thoại, để người nghe biết rằng mình đang nói và chịu trách nhiệm về lời nói của mình. Đây là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi 1). Hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong cuộc thoại.
Hô được hiểu là tập hợp những biểu thức mà người nói dùng để chỉ người đối thoại với mình. Đặc điểm của xưng hô là phải có sự hiện diện của người nói và người nghe. Có thể nói, trong bất kỳ một cuộc giao tiếp nào không thể thiếu được từxưng và từ hô. Ngay cả khi trong trường hợp vắng mặt (zezo), cũng có thể coi là một sự có mặt không hiện hữu mang tới một ý nghĩa nhất định.
Tuy nhiên, do ngôn ngữ của một dân tộc phản ánh và thể hiện đặc điểm tư duy, văn học, phong tục, truyền thống riêng của dân tộc đó, nên việc đánh giá về sự xuất hiện hay không xuất hiện từ xưng hô cũng như cách xưng và hô là có khác nhau. Đây cũng là một trong những lý do giải thích vì sao khi giao tiếp bằng ngoại ngữ, người ta thường ít nhiều mang thói quen lối tư duy bản ngữ vào việc sử dụng từ xưng hô trong câu, như dùng từ xưng hô vào trong những câu (đáng lẽ không cần dùng từ SV: Lê Văn Thắng 13 Lớp: K15 – ĐHSP Ngữ Văn Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Mai Thị Hảo Yến xưng hô) và không dùng từ xưng hô trong những câu (đúng là phải dùng từ xưng hô). Ngay trong một dân tộc, giao tiếp bằng ngôn ngữ của một dân tộc đó, ở mỗi giai đoạn lịch sử và ở các cộng đồng nói năng khác nhau do nhiều lý do khác nhau mà cũng có cách xưng hô khác nhau và nhìn nhận khác nhau về cách xưng hô.
Cần phân biệt xưng hô và xưng gọi. Nếu như xưng gọi là một phát ngôn của người nói (thường chỉ là một lần trong hội thoại) hướng vào người nghe đểngười nghe biết được người hô gọi muốn thực hiện cuộc hội thoại với anh ta thì xưng hô là một hoạt động ngôn từ diễn ra thường xuyên liên tục trong cuộc thoại, nó được diễn tiến qua ngôn ngữ của các nhân vật tham gia hội thoại. Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ đều có hệ thống từ xưng hô và có cách dùng chúng, để một mặt thực hiện chức năng xưng gọi, mặt khác thể hiện được những đặc điểm văn hoá giao tiếp của dân tộc đó. Từ xưng hô, từ trước tới nay đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm ở hai bình diện cấu trúc và chức năng.