ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng chuyển hoá (HCCH: metabolic syndrome) là sự tập hợp của nhiều triệu chứng gồm: sự bất thường glucose máu, tăng huyết áp (THA), kháng insulin, béo phì (béo bụng) và rối loạn lipid máu (RLLP) máu. và đang có xu hướng tăng nhanh ở nhiều quốc gia nhất là ở các nước phát triển và đang phát triển. Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF: International Diabetes Federation - 2006) ở Việt Nam tỷ lệ HCCH chiếm 18,5% [37]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World Health Organization) năm 2008: hàng năm có 17,3 triệu người chết do bệnh tim mạch (BTM), tử vong do bệnh tim mạch cao ở các nước đang phát triển và chậm phát triển (gần 80%).
Dự đoán đến năm 2030 có khoảng 23,6 triệu người chết do mắc bệnh tim mạch [79]. Nhiều nghiên cứu cho thấy hội chứng chuyển hóa có mối liên quan chặt chẽ đến bệnh tim mạch nói chung và bệnh động mạch vành (ĐMV) nói riêng theo thang điểm Framingham, khi người có hội chứng chuyển hóa bị mắc bệnh tim mạch, bệnh động mạch vành thì nguy cơ cao liên quan đến tử vong và tàn phế. Lakka HM và CS (2002) nghiên cứu 1209 người nam giới có tuổi từ 42-60 thấy tỷ lệ chết do bệnh động mạch vành và bệnh tim mạch ở người có hội chứng chuyển hóa cao gấp 3,77 và 3,55 lần so với người không có hội chứng chuyển hóa [35], [62], [71]. Tăng huyết áp nguyên phát đang ngày càng phổ biến trong cộng đồng và chiếm tỷ lệ cao ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam [12], [17], [95].
Theo WHO dự báo đến năm 2025 thế giới có khoảng 1,56 tỷ người bị tăng huyết áp, trong đó khu vực Đông Nam Á hàng năm có khoảng 1,5 triệu người chết do tăng huyết áp, ở Việt Nam theo thống kê của WHO năm 2008 thì tỷ lệ tăng huyết áp nguyên phát chiếm 26,1% [94]. Tăng huyết áp nguyên phát đã trở thành một vấn đề về sức khoẻ cộng đồng được quan tâm trong những năm gần đây, bởi tăng huyết áp thường gây ra những biến chứng như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 2 đột quỵ não (ĐQN), bệnh động mạch vành… làm tàn phế hoặc tử vong cho người bị bệnh [12], [34]. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng huyết áp tương đối cao (khoảng 50-70%) [9], [13]. Đồng thời ở bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa nguy cơ tổn thương các cơ quan đích và bị bệnh tim mạch, bệnh động mạch vành cao hơn so với bệnh nhân tăng huyết áp không có hội chứng chuyển hóa [60], [61], [68], [89].
Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghiên cứu các tổn thương cơ quan đích ở bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa còn chưa được quan tâm nhiều. Phú Thọ là một tỉnh miền núi, chủ yếu là người Kinh, Mường, Tày sinh sống, trình độ dân trí chưa cao nên sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ (YTNC) liên quan đến tăng huyết áp nguyên phát, hội chứng chuyển hóa còn nhiều hạn chế. Sự phát triển về kinh tế kéo theo thói quen chế độ ăn nhiều năng lượng, lối sống tĩnh tại cùng các yếu tố nguy cơ khác làm cho tỷ lệ bệnh tăng huyết áp có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Xuất phát từ các yếu tố bệnh lý và địa dư nói trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: "Đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh Phú Thọ" nhằm mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh Phú Thọ. Đánh giá tổn thương một số cơ quan đích ở bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Tăng huyết áp nguyên phát ở ngƣời lớn tuổi 1.
Các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp + Tăng glucose máu: Bệnh ĐTĐ typ 2 hay đi cùng với THA (khoảng 30-50% bệnh nhân ĐTĐ typ 2 bị THA, những bệnh nhân này thường béo. Ngược lại, xét nghiệm glucose máu thấy tăng ở 1/3 số bệnh nhân THA). Một số nghiên cứu cũng thấy ở người giảm dung nạp glucose cũng liên quan đến THA [6]. + Rối loạn lipid (RLLP) máu: Được gọi là RLLP máu khi có rối loạn một hoặc nhiều thành phần sau: tăng cholesterol toàn phần (TC: Total cholesterol), tăng triglyceride (TG), tăng lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C: Low Density Lipoprotein cholesterol), giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C: High Density Lipoprotein cholesterol)… [1], [2], [14].
Chẩn đoán RLLP máu khi [12]: - TC: ≥ 5,2 mmol/l. + Thừa cân và béo: Béo là yếu tố nguy cơ cao của THA. Bởi vì, béo làm tăng các yếu tố như: tăng acid béo tự do, tăng glucose máu, kháng insulin và làm nảy sinh ra các cytokine như: leptin, yếu tố hoại tử u (TNFα: tumor necrosis factor alpha), adiponectin… làm THA. Theo tiêu chuẩn của WHO áp dụng cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương (2000) khi đối tượng có chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) ≥ 23kg/m2 được gọi là thừa cân và béo; chẩn đoán béo bụng khi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 4 đối tượng có vòng bụng (VB) tăng (ở nam giới ≥ 90 cm, nữ giới ≥ 80 cm); hoặc tỷ lệ VB/vòng mông (WHR: waist hip ratio) tăng (ở giới nam ≥ 0,9 và nữ ≥ 0,85) được gọi là béo bụng.
Nhiều nghiên cứu thấy tỷ lệ THA tăng ở người thừa cân và béo (BMI ≥ 23kg/m2) hoặc béo VB [9], [10], [40], [54]. + Kháng insulin: Kháng insulin (insulin resistance: IR) có mối liên quan chặt chẽ đến THA. Nhiều nghiên cứu cho thấy, ở người tăng nồng độ insulin hay kháng insulin thì thấy THA nhiều hơn người không kháng insulin [56], [88]. + Thói quen hút thuốc lá (HTL): Trong thành phần thuốc lá có nicotin có tác dụng chủ yếu làm co mạch ngoại biên, làm tăng nồng độ serotonin, catecholamin ở não, tuyến thượng thận làm THA.
Hút một điếu thuốc lá, huyết áp tâm thu (HATT) có thể tăng lên tới 11 mmHg, huyết áp tâm trương (HATTr) tăng lên đến 9 mmHg, kéo dài 20 – 30 phút. Hút thuốc nhiều có thể có cơn THA kịch phát [12], [35]. Phạm Gia Khải và CS (1999) đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng nghiện thuốc lá tại Hà Nội, có 1450 người chiếm tỷ lệ 19,03% (nam: 1399 người chiếm 96,48%; nữ: 51 người chiếm 3,51%). Số điếu hút trung bình là 22,14 4,7 điếu/ngày tức khoảng 1 bao (20 điếu)/ngày/người.
Tỷ lệ THA chung ở nhóm những người nghiện thuốc lá là 15,86%. + Tuổi cao: THA tăng dần theo tuổi, ở Hoa Kỳ độ tuổi ≥ 65 năm có tỷ lệ THA cao nhất (69,7%) và thấp nhất là độ tuổi (18-39 năm) chiếm 7,4%. Tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều, do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế làm cho HATT tăng cao hơn còn gọi là THA tâm thu đơn thuần [6], [12]. + Ăn mặn: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều muối (natri chlorua) thì tần suất mắc bệnh THA tăng cao rõ rệt.
Người dân ở vùng biển có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 tỷ lệ mắc bệnh THA cao hơn nhiều so với những người ở đồng bằng và miền núi. Hạn chế ăn muối < 6gram/ngày hay 100 mmol/ngày có thể giảm từ 2-8 mmHg [17]. + Lối sống tĩnh tại: ít vận động thể lực dễ béo phì gây THA. Nếu tập thể dục, nhất là đi bộ nhanh (30-45 phút/ngày) có thể giảm 4-10 mmHg, ngay cả khi bệnh nhân không giảm cân [79], [95].
+ Có nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức): căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim. Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến THA [79]. + Uống nhiều bia, rượu: > 30 ml ethanol/ngày; > 720 ml bia [45]. + Café: uống café thường xuyên cũng gây THA [79].
+ Ăn nhiều chất đạm, mỡ [6], [12]. Chẩn đoán tăng huyết áp Theo khuyến cáo của Uỷ ban THA quốc tế của Hoa Kỳ (JNC: Joint National Committee) VI thì đối tượng được gọi là THA khi: HATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg. Phân độ THA theo JNC VI, theo khuyến cáo Hội tim mạch học Việt Nam (2010) [12], [34]: Mức độ HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Bình thường < 120 và < 80 Tiền THA 120 - 139 hoặc 80 – 89 THA độ 1 140 - 159 hoặc 90 – 99 THA độ 2 160 - 179 100 – 109 THA độ 3 180 110 THA tâm thu đơn độc 140 < 90 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp 1.
Tổn thương tim - Phì đại thất trái: phì đại đồng tâm hay lệch tâm; chủ yếu là phì đại vách liên thất và thành sau thất trái, gây tăng khối lượng cơ thất trái và chỉ số khối lượng cơ thất trái. - Suy chức năng tâm trương thất trái (giảm khả năng đổ đầy máu về buồng thất trái), sau đó là suy chức năng tâm thu thất trái (giảm khả năng tống máu của thất trái: EF% < 40%). Đến giai đoạn sau sẽ xuất hiện suy cả chức năng tâm thu và suy cả chức năng tâm trương mức độ nặng. - Rối loạn nhịp tim (LNT) hay gặp như: ngoại tâm thu thất; nhanh thất, rung thất gây đột tử… - THA thường kèm theo vữa xơ ĐMV gây đau thắt ngực hoặc NMCT.
- Động mạch chủ vồng cao, nếu kết hợp vữa xơ động mạch có vôi hoá cung động mạch chủ; phình, giãn, bóc tách động mạch chủ (theo các típ của Debakey), động mạch chậu và động mạch chi dưới. Điện tim được coi là một chỉ định thường quy trên bệnh nhân THA, bởi điện tim có thể phát hiện thiếu máu cơ tim (TMCT), rối loạn dẫn truyền, LNT. Ngoài ra điện tim phát hiện được độ dày thất trái thông quan chỉ số Sokolow- Lyons. Siêu âm tim có độ nhạy phát hiện dày thất trái và dự báo nguy cơ tim mạch hơn điện tim.
Tuy nhiên, sử dụng siêu âm tim không phải lúc nào thực hiện được trên bệnh nhân THA, nhất là ở tuyến y tế cơ sở, giá thành cao và phải có bác sĩ chuyên khoa siêu âm tim mạch làm [3], [12], [34]. Tổn thương mạch máu Nhiều nghiên cứu thấy ở bệnh nhân THA có tăng độ dày nội mạc động mạch cảnh và phát hiện mảng vữa xơ động mạch cảnh có giá trị cao trong dự báo ĐQN và NMCT [12].