Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, định nghĩa về tăng huyết áp sử dụng trong nghiên cứu Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số: HA tâm thu (còn gọi là HA tối đa) là áp lực của máu lên động mạch khi tim co bóp và HA tâm trương (còn gọi là HA tối thiểu) là áp lực máu lên thành động mạch khi tim giãn ra (11). Tăng huyết áp: Theo định nghĩa của hội tăng huyết áp thế giới 2020 (ISH 2020), THA là khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và/hoặc khi HA tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg (11), (12).
Phân độ tăng huyết áp: Theo phân độ của WHO 2020 và Hội Tim mạch Việt Nam, các mức HA (mmHg) được phân loại như sau (11), (13). Phân độ tăng huyết áp (theo WHO năm 2020 và theo Hội Tim mạch Việt Nam) Phân loại HA Tâm Thu HA Tâm Trương HA tối ưu <120 và <80 HA bình thường 120 - 129 và/hoặc 80 - 84 HA bình thường cao ►130 - 139 và/hoặc 85 - 89 THA độ 1 (nhẹ) 140 - 159 và/hoặc 90 - 99 THA độ 2 (trung bình) 160 - 179 và/hoặc 100 - 109 THA độ 3 (nặng) >180 và/hoặc > 110 THA tâm thu đơn độc >140 và <90 + Nếu HA không cùng mức để phân loại thì chọn mức HA tâm thu hay tâm trương cao nhất. THA TT đơn độc xếp loại theo mức HATT + Tiền Tăng huyết áp: Khi HATT > 120-139mmHg và HATTr > 80-89 mmHg Phân độ tăng huyết áp theo báo cáo lần thứ 7 của Liên Ủy ban Quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC VII) (14), phân độ THA như sau: - Theo JNC VII (2003) (14). Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII Huyết áp (mmHg) Phân độ TH Tâm thu Tâm trương Bình thường <120 <80 Tiền THA 120 - 139 80 - 89 THA độ I 140 - 159 90 - 99 THA độ II >160 >100 Đạt huyết áp mục tiêu: THA là bệnh phải điều trị liên tục, kéo dài và thậm chí suốt đời, trong quá trình dùng thuốc, trị số HA trở về bình thường (<140/90 mmHg) thì được gọi là đạt huyết áp mục tiêu, tuy nhiên đó mới chỉ đạt mục tiêu điều trị, do vậy bệnh nhân không được ngừng điều trị (14).
Có thể thấy phân độ tăng huyết áp của WHO năm 2020 và phân độ THA của Hội Tim mạch Việt Nam là tương đồng nhau. Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng phân độ THA của Hội Tim mạch Việt Nam để đánh giá tình trạng THA của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC). Phương pháp đo huyết áp: - Nghỉ trong phòng yên tĩnh ít nhất 5 - 10 phút trước khi đo huyết áp; - Không dùng các chất kích thích trước 2 giờ; - Tư thế đo chuẩn: người được đo huyết áp ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim. Ngoài ra có thể đo ở tư thế nằm, đứng.
Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường nên đo huyết áp tư thế đứng nhằm xác định có hạ huyết áp tư thế hay không. - Cách sử dụng huyết áp kế đồng hồ: Các thiết bị đo cần được kiểm chuẩn định kỳ. Bề dài bao đo tối thiểu bằng 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay. Quấn băng quấn đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khuỷu 2cm.
Đặt máy ở vị trí để đảm bảo máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim. 6 - Đặt ống nghe ở vị trí động mạch cánh tay. Bơm hơi thêm 30 mmHg sau khi không còn thấy mạch đập. “Xả hơi với tốc độ 2 - 3 mmHg/nhịp đập.
Huyết áp tâm thu tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên và huyết áp tâm trương tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập”. - Trong lúc đo huyết áp không nên nói chuyện. - Mỗi ĐTNC được đo huyết áp ở cả 2 tay (mỗi tay đo 1 lần), lấy chỉ số huyết áp ở tay có chỉ số cao hơn. Những trường hợp có chỉ số huyết áp chênh lệch nhau trên 10 mmHg thì ĐTV cho ĐTNC nghỉ ngơi 10 phút, sau đó đo lại và lấy chỉ số huyết áp của lần đo sau (14).
- Đơn vị của huyết áp ghi theo đơn vị mmHg, viết dưới dạng huyết áp tâm thu/huyết áp tâm trương (HATr). Dụng cụ đo là HA hiệu ALPK2 của Nhật. Thực trạng tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Trước sự gia tăng và tác động to lớn của THA, Tổ chức Y tế thế giới (2013) đã có cảnh báo cáo về tăng huyết áp là “kẻ sát nhân thầm lặng, cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng” và là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu.
Tại thời điểm đó, tỷ lệ người lớn bị THA là 28,5% (27,3- 29,7%) ở các nước thu nhập cao và 31,5% (30,2 - 32,9%) ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ THA chuẩn hóa theo tuổi đã giảm 2,6% ở các nước có thu nhập cao nhưng tăng 7,7% ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Trong cùng thời kỳ, tỷ lệ nhận thức (58,2% so với 67,0%), điều trị (44,5% so với 55,6%), và kiểm soát (17,9% so với 28,4%) tăng đáng kể ở các nước thu nhập cao, trong khi nhận thức (32,3% so với 37,9%) và điều trị (24,9% so với 29,0%) tăng ít hơn, và kiểm soát (8,4% so với 7,7%) thậm chí giảm nhẹ ở các nước thu nhập thấp và trung bình (15). Ở Ấn Độ năm 2014 của tác giả Anchala, Raghupathy và cộng sự tiến hành phân tích tổng hợp về sự phổ biến, nâng cao nhận thức, và kiểm soát tăng huyết áp đối với người lớn (>18 tuổi) tại một số vùng nông thôn và thành thị của Ấn Độ.
Qua tổng hợp 142 bài viết trong tổng số 3.047 bài viết, kết quả cho thấy tỷ lệ THA chung của Ấn Độ là 29%, nông thôn 25% và thành thị là 33%. Trong số này, 25% người dân ở nông thôn và 42% người dân ở đô thị nhận thức được tình trạng THA của họ (16). Phân tích tổng hợp 33 nghiên cứu năm 2013 của Dinesh Neupane và cộng sự ở các quốc gia Nam Á, với tổng 220.539 đối tượng nghiên cứu, từ 20 tuổi trở lên, tỷ lệ THA từ 13% đến 47%, trung bình là 27% (17). Kết quả nghiên cứu của Maria Dorobantu và cộng sự năm 2014 tại Rumani thực hiện 02 cuộc điều tra cắt ngang cách nhau 7 năm, cuộc thứ nhất với 2.017 cá nhân tuổi từ 18-85, tỷ lệ tham gia nghiên cứu 45%, cuộc thứ hai với 1.975 cá nhân tuổi từ 18-80, tỷ lệ tham gia nghiên cứu 69%, bằng cách phỏng vấn theo bộ câu hỏi, đo huyết áp và các số đo nhân trắc học trong hai nghiên cứu.
Tỷ lệ THA ở Rumani là 40,41%, nhận thức đúng về THA là 69,55%, trong đó với 59,15% cá nhân THA được điều trị, tỷ lệ kiểm soát được HA là 25%. Qua 7 năm, đã giảm 10,7% về tỷ lệ THA, gia tăng 57% trong nhận thức của THA và tăng 52% trong điều trị tăng huyết áp, dẫn đến gần như tăng gấp đôi tỷ lệ kiểm soát của THA (18). 8 Kết quả nghiên cứu của Tara Kessaram, Jeanie McKenzie và cộng sự năm 2015 nghiên cứu về các bệnh không lây nhiễm và các yếu tố nguy cơ ở quần thể người lớn ở một số quần đảo thuộc Thái Bình Dương: kết quả từ phương pháp tiếp cận theo phương pháp của WHO về giám sát, cho thấy tỷ lệ THA đã vượt quá 25% ở một số quần thể. Tăng huyết áp ít phổ biến ở quần đảo Solomon và phổ biến nhất ở Samoa thuộc Mỹ và quần đảo Cook, nơi có hơn 30% phụ nữ và 40% nam giới bị THA (19).
Kết quả nghiên cứu của Li-Yuan Ma và cộng sự về báo cáo bệnh tim mạch tại Trung Quốc năm 2018 cho thấy 25,2% người lớn ở Trung Quốc từ 18 tuổi trở lên bị tăng huyết áp; tương ứng với khoảng 270 triệu người. Khảo sát Tăng huyết áp Trung Quốc đã kiểm tra 451.755 người > 18 tuổi từ 262 khu vực thành thị và nông thôn tại 31 tỉnh, thành phố và khu tự trị của Trung Quốc đại lục trong năm 2012-2015. Tỷ lệ nhận thức, điều trị và kiểm soát bệnh tăng huyết áp ở người lớn Trung Quốc >18 tuổi lần lượt là 51,6%, 45,8% và 16,8%, và tỷ lệ tăng huyết áp được kiểm soát ở những người được điều trị là 37,5%, cao hơn so với tỷ lệ quan sát trước đó (20). Kết quả nghiên cứu của MD Chobufo và cộng sự năm 2019 tại Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ THA giai đoạn 2017-2018 là 49,64%, tương ứng với 115 triệu người mắc THA.
Trong đó tỷ lệ THA ở người da đen là 58,53%; ở nam giới là 54,46%; tỷ lệ THA ở người cao tuổi và người mắc bệnh tiểu đường và suy thận cùng tỷ lệ là 61,03% (21). Kết quả nghiên cứu của S Asgari và cộng sự (2019) nghiên cứu về tình trạng tăng huyết áp tại Tehran, nghiên cứu tiến hành khảo sát 10.576 người có độ tuổi từ 20 tuổi trở lên; kết quả cho thấy tỷ lệ THA là 47,2% (22). Kết quả nghiên cứu của Mahadir Naidu B. và cộng sự năm 2019, nghiên cứu tiến hành khảo sát 15.738 người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên; nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn đánh giá JNC7.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA nói chung là 66,8%, với 45,8% bị tiền THA, 15,1% bị THA giai đoạn 1 và 5,9% THA giai đoạn 2 (23). Kết quả nghiên cứu của Kanya Somprasong và cộng sự năm 2020 tại Thái Lan, nghiên cứu tiến hành khảo sát 1.287 người dân từ 35 tuổi trở lên. Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn một nửa số người tham gia là nữ (60,5%) và đã kết hôn (83,1%); độ tuổi trung bình là 52,2 tuổi. Hầu hết những người tham gia đều có thể nói (57,9%) và hiểu (55,0%) tiếng Thái; tuy nhiên, 3/4 người không biết đọc (60,8%) hoặc viết (51,5%) tiếng Thái.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA chung là 24,3%; trong đó tỷ lệ THA ở bộ tộc Yao là cao 9 nhất 29,0%, kế đến 26,2% ở bộ tộc Hmong, 25,2% ở bộ tộc Lisu, 25,0% ở bộ tộc Lahu và 22,1% ở bộ tộc Karen. Tỷ lệ hiện nhiễm ở nam là 25,8% và ở nữ là 23,4%. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc THA theo các nhóm tuổi hầu hết đều giống nhau, dao động từ 22,2-25,7%. Hơn một nửa trong số đó không biết bản thân bị mắc THA.
Về hành vi sức khoẻ có 22,8% đang hút thuốc lá, 29,6% sử dụng rượu bia thường xuyên và 51,9% không tập thể dục.