Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ VẤN ĐÈ NGƯỜI CAO TUỔI 1. Khái niệm về người cao tuổi Chất lượng cuộc sống ngày tăng, tuổi thọ con người ngày càng cao, nên số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc đưa ra và cũng đã được xác lập trong Pháp lệnh người cao tuổi của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định những người có độ tuổi từ 60 trở lên được gọi là người cao tuổi [4].
Tổ chức Y tế thế giới sắp xếp các lứa tuổi như sau:[31]. 45 - 59 : Người trung niên 75 - 90 : Người già 60 - 74 : Người cao tuổi > 90 : Người già sống lâu Theo hội NCT Việt Nam tuổi thọ được chia là: [26] Tuổi 60 - 69 là hạ thọ 75- 90: Người già Tuổi 70 - 74 là trung thọ > 90: Người già sống lâu 1. Tình hình NCT trên Thế giói và Việt Nam: Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hội nghị Thế giới làn thứ II về NCT tại Madrid, Tây Ban Nha, ngày 8/12/2002 nhận định rằng Thế giới sẽ có một sự chuyển đổi nhân khẩu học chưa từng có và đến năm 2025 số NCT sẽ tăng từ 600 triệu lên khoảng 1,2 tỷ người cao tuổi. Năm 2050 sẽ tăng lên khoảng 2 tỷ người cao tuối và tỷ lệ NCT sẽ tăng gấp đôi từ 10% lên 20%.
Mức tăng cao nhất và nhanh nhất sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển, 80% NCT trên thể giới sẽ sống tại các nước đó [34]. Ở nước ta hiện tại cấu trúc dân số vẫn thuộc loại trẻ, song số NCT cũng ngày càng tăng. Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, cả nước có 6,19 triệu NCT, năm 2004 là 6,6 triệu, năm 2009 theo dự đoán là 7,1 triệu và năm 2009 sẽ là 16,5 triệu. Việt Nam chính thức trở thành quốc gia có dân số già [30].
Những biến đổi tâm sinh lý và bệnh tật thường gặp của người cao tuồi Già là quá trình sinh học và quá trình hoá già xảy ra trong cơ thể với các mức độ khác nhau làm giảm hiệu lực của ccác cơ chế tự điều chỉnh cơ thể, giảm khả năng thích nghi bù trừ, do đó khó đáp ứng được những đòi hỏi của sự sống. về mặt sinh lý, biến đổi thường gặp nhất là giảm khả năng thụ cảm (giảm thị lực, khứu giác, vị giác, xúc giác). Các cấu trúc xinap cũng giảm tính linh hoạt trong sự dẫn truyền xung động. Hậu quả là phản xạ vô điều kiện hình thành chậm hơn, yếu hơn.
hoạt động thần kinh cao cấp có những biến đổi trong các quá trình cơ bản, giảm ức chế rồi giảm hưng phấn. Sự cân bằng giữa hai quá trình đó kém đi, đẫn đến rối loạn hình thành phản xạ có điều kiện. Thường gặp trạng thái cường giao cảm, rối loạn giấc ngủ (thường là giấc ngủ không sâu, ban ngày dễ ngủ gà). về mặt tâm lý, nhiều người già sống lâu sức khoẻ bình thường, vẫn giữ được một phong thái hoạt động thần kinh cao cấp như lúc còn trẻ.
Khi sức khoẻ không ổn định, tâm lý và tư duy thường biến đổi và mức độ của những biến đổi ấy tuỳ thuộc vào quá trình hoạt động cũ, thể trạng chung và thái độ của người xung quanh. Trong các biến đổi đó, có hai đặc tính chung là giảm tốc độ và tính linh hoạt. Dễ có sự đậm nét hoá về tính tình cũ, giảm quan tâm đến những người xung quanh, đến “thế sự”, ít hướng về cái mới mà thường quay về đời sống nội tâm. Người già thường sợ sự cô đơn và dễ tủi thân.
Trí nhớ và kiến thức chung về nghiệp vụ vẫn khá tốt, nhưng thường giảm khả năng ghi nhớ những việc mới xảy ra và những vấn đề trừu tượng. Già không phải là bệnh nhưng già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển. Sở dĩ như vậy là vì ở tuổi già, có giảm khả năng và hiệu quả của các quá trình tự thích nghi của cơ thể, giảm khả năng hấp thụ và dự trữ các chất dinh dưỡng, đồng thời thường có những rối loạn chuyển hoá, giảm phản ứng cơ thể, nhất là giảm sự tự vệ đối với các yếu tố gây bệnh như nhiễm trùng, nhiễm độc, các stress. Chính vì vậy ở người già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc nhất là bệnh mãn tính [22], [21].
Theo kết quả điều tra dịch tễ, những người khoẻ mạnh thực sự chiếm khoảng 1/5 trong số người cao tuổi, số còn lại mắc các bệnh khác nhau với đặc tính đa bệnh lý. 7 Bệnh ở người già thường phát triển từ từ, chậm chạp, âm thầm khó phát hiện và dần dần trở thành mãn tính. Khi mắc bệnh cũng thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp nhanh chóng nên không được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, tích cực dễ dẫn đến tử vong. Người già có những hẫng hụt lớn về tâm lý do sự rời bỏ hoạt động nghề nghiệp, thói quen công việc đã gắn bó nhiều năm.
Sự thay đổi địa vị xã hội, thay đổi lối sống, thay đổi chức năng vai trò của cá nhân đối với con cái, gia đình; tỷ lệ tăng người thân, bạn bè qua đời cùng với sự thoái hoá của hệ thần kinh, giảm sút trí nhớ. làm cho bệnh lý tâm thần của người già tăng cao và trầm trọng [24]. Trong độ tuổi 60 - 69 có 40,2% số người có từ 4 đến 5 bệnh, còn ở độ tuổi lớn hon bàng 75 có đến 65,9% số người mắc trên 5 bệnh. Kết quả điều tra dịch tễ tại Việt Nam (năm 2002) cho thấy một người già mắc 2,69 bệnh, trên 75 tuổi là 3,05 bệnh.
Trong đó người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp nhiều nhất so với các lứa tuổi khác chiếm tỷ lệ 45,6 % [1], [ 5]. KHÁI NIỆM VÈ HUYẾT ÁP, TĂNG HUYẾT ÁP 1. Khái niệm huyết áp [7], [8], [15], [25]: - Huyết áp (HA) là áp lực máu của động mạch do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của lực cản thành động mạch. Ket quả làm cho máu được lưu thông đen các tế bào để cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu toàn cơ thể.
- Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất gọi là huyết áp tâm thu (HATT) hay HA tối đa. - Khi tim nghỉ, áp lực đó xuống đến mức thấp nhất gọi là huyết áp tâm trương (HATTr) hay HA tối thiểu. Khái niệm về tăng huyết áp (THA): - THA là khi trị số huyết áp đo được ở trên mức bình thường. THA có thể là tăng cả tâm thu và tâm trương hoặc chỉ tăng 1 trong 2 dạng đó [8], [25].
8 - Hiện tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã có nhiều khuyến cáo và chỉ dẫn về việc phân loại, theo dõi và điều trị tăng huyết áp. Hội đồng chuyên viên WHO - 1978 chia tăng huyết áp thành các giai đoạn, căn cứ vào các mức độ tốn thương các cơ quan đích. Năm 1993 WHO phân THA thành các mức độ nặng, vừa và nhẹ. Tuy nhiên các khuyến cáo trên chưa thật hoàn chỉnh vì không đề cập đến các yếu tố nguy cơ cũng như các chỉ dẫn điều trị THA sao cho thích hợp [28].
- Cùng với WHO và Hội THA quốc tế, Liên Uỷ ban Quốc gia Hoa Kỳ (JNC): cũng đưa ra phân loại THA. Cách phân loại này dựa trên số HA đo được, đồng thời chú ý đến cả tổn thương cơ quan đích. Đen năm 1997, tại kỳ họp lần thứ VI, JNC đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá THA một cách hoàn chỉnh hơn (JNC VI) bao gồm con số HA đo được, tổn thương cơ quan đích, yếu tố nguy cơ và hướng dẫn điều trị (Liên Uỷ ban Quốc gia Hoa Kỳ VI - 1997, bảng phân loại mức HA của người trên 18 tuổi [41]. - Cuối năm 1998, WHO và Hội THA quốc tế đã hội thảo và đưa ra “Hướng dẫn của WHO/ISH - 1999 về THA” bằng nhiều chỉ dẫn tương đối cụ thể và hoàn chỉnh về phân loại THA, về yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích cũng như khuyến cáo khá đầy đủ về phương pháp điều trị và quản lý bệnh nhân THA, đây là tài liệu có giá trị khoa học và thực tiễn cao [41].
Phân loại mức độ tăng huyết áp theo hướng dẫn của JNC VI (1997) Phân loại THA HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA tối ưu < 120 <80 HA bình thường < 130 <85 HA bình thường cao 130- 139 85 - 89 Tăng huyết áp độ 1 140- 159 90-99 Phân nhóm giới hạn 140-149 90-94 Tăng huyết áp độ 2 160-179 100- 109 Tăng huyết áp độ 3 > 180 >110 * Chủ ý: Khi huyết áp tâm thu (HATT) và huyết áp tâm trương (HATTr) không cùng độ, thì chọn phân độ cao nhất. 9 Năm 2003, theo qui định của Liên uỷ ban quốc gia về phòng ngừa, phát hiện, đánh giá, và điều trị bệnh THA lần thứ VII (JNC VII), đã đưa ra một số chỉ dẫn về phân loại và xử trí HA mới nhất:[13] Bảng 1. Phân loại mức độ huyết áp theo hướng dẫn của JNC VII (2003) Phân loại THA HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Bình thường < 120 <80 Tiền tăng huyết áp 120- 139 <80-89 Tăng huyết áp độ 1 140-159 90-99 Tăng huyết áp độ 2 > 160 > 100 Trong phân loại JNC VII không còn THA giai đoạn 3 mà đã gộp giai đoạn 2 và 3 của INC VI thành THA độ 2, vì thực tế chiến lược điều trị cho giai đoạn 2 và giai đoạn 3 không khác nhau. Trong JNC VII cũng không còn nhóm HA tối ưu, nhóm HA bình thường và bình thường cao được gộp chung vào một nhóm là tiền THA, một số nghiên cứu cho thấy, những nguời có trị số huyết áp 130/80 mmHg đến 139/89 mmHg thì có nguy cơ tiến triển bệnh tăng huyết áp cao hơn gấp 2 lần so với người có trị số HA thấp hơn.
- THA giai đoạn 1 (trước đây gọi là độ 1) nghĩa là HA 140 - 159/90 - 99 mmHg. JNC VII bỏ khái niệm THA giới hạn. - THA độ 2 và 3, nay được JNC VII gộp lại gọi là giai đoạn 2. HA tâm thu > 160 hoặc HA tâm trương > 100 mmHg.
Vì tỷ lệ biến chứng không khác nhau rõ và xử lý giống nhau [13]. - Tăng huyết áp là một hiện tượng đo được nhưng nguyên nhân không phải là luôn luôn tìm thấy. Tăng huyết áp phải coi là một bệnh xã hội, THA chiếm 11,8 % dân số trên 15 tuổi ở Việt Nam và xu hướng ngày càng gia tăng. Nhưng chỉ dưới 1/3 bệnh nhân tự biết mình bị THA.