CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đãi ngộ nhân lực ngành y tế 1. Các khái niệm - Khái niệm ngành y tế Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngành y tế, tuy nhiên chung nhất có thể định nghĩa về khái niệm ngành y tế như sau: Y tế theo nghĩa đen là chữa bệnh và cứu giúp, hay chăm sóc sức khỏe, là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừ bệnh, bệnh tật, thương tích và suy yếu về thể chất và tinh thần ở người. Nó đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thứ cấp cũng như trong y tế công cộng - Khái niệm nhân lực và nhân lực ngành y tế Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và gồm cả tinh thần.
Nguồn nhân lực được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi để chỉ vai trò và vị trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX (Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Chuyên đề nhân lực, tr5). Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội (Nguồn: Phát triển và quản lý nhân lực xã hội, Nhà xuất bản Tư pháp, 2005).
Với cách nhìn này, nguồn nhân lực được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội. 11 Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động trong tổ chức đó. Bao gồm tất cả các cá nhân tham gia bất kỳ hoạt động nào của tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất.
Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội (tầm vĩ mô) và quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của một tổ chức (vi mô). Có cách hiểu khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực vì có cách tiếp cận khác nhau nhưng có một điểm chung đó là nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức. Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất xã hội.
Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song đều có chung một ý nghĩa là nói lên khả năng lao động của xã hội. Với khái niệm được đề cập trên đây về nhân lực và nguồn nhân lực thì có thể hiểu rằng nhân lực ngành y tế là nhân lực hoạt động trong lĩnh vực y tế. Nhân lực ngành y tế (bao gồm bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ, …) là thành phần vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến sức khỏe. Đội ngũ nhân lực y tế đa chuyên ngành, có chuyên môn tốt có khả năng cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao và lấy người dân làm trung tâm là vô cùng cần thiết để đáp ứng nhu cầu y tế đang thay đổi tại Việt Nam, đặc biệt 12 là sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm và già hóa dân số.
Trong công cuộc cải cách hệ thống y tế tại Việt Nam, một trong những việc trọng tâm là tập trung xây dựng nhân lực ngành y tế. Cụ thể, cần xây dựng đôi ngũ cán bộ y tế có trình độ, đặc biệt ở tuyến cơ sở; có cơ chế chính sách đảm bảo chất lượng chuyên môn y tế và chất lượng đào tạo tại các trường đại học y; và đảm bảo mức lương xứng đáng cho các cán bộ y tế. Trong khu vực công (các đơn vị sự nghiệp công lập), nhân lực ngành y tế hay còn gọi là viên chức y tế được định nghĩ như sau trong Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 (Nguồn: https://m.vn/): “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Vậy nhân lực ngành y tế mang các nét đặc trưng sau: - Được tuyển dụng theo vị trí việc làm.
- Làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập, trong trường hợp cụ thể này thì các đơn vị sự nghiệp công lập là các cơ sở y tế có giường bệnh, và cơ sở y tế không giường bệnh. - Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. - Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định là bộ phận cấu thành của bộ máy cơ quan nhà nước và chịu sự quản lý nhà nước cả về tổ chức cũng như hoạt động trong các lĩnh vực, cụ thể như lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. Do đó, Luật Viên chức năm 2010 số 58/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 đã định nghĩa “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có 13 thẩm quyền Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” (Nguồn: https://m.
Như vậy, đơn vị sự nghiệp công lập được nhận diện thông qua các yếu tố sau đây: - Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. - Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Có tư cách pháp nhân. - Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.
- Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Trong đó, đặc trưng của đơn vị sự nghiệp để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức. Các đơn vị sự nghiệp được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… - Khái niệm Chính sách công và thực hiện Chính sách công Để quản lý xã hội, bộ máy nhà nước phải ban hành các chính sách phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Tác động của Nhà nước đến các đối tượng có thể mang tính chính trị, hành chính, kinh tế và được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất.
Thuật ngữ chính sách được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Dưới đây, là một số khái niệm của các học giả trong và ngoài nước như: 14 - Chính sách là những gì mà Chính phủ làm, lý do làm, và sự khác biệt nó tạo ra (Dye 1972). - Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề (Anderson 1984). - Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng “Chính sách là chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội”; - Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”. Tóm lại từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” (Nguồn: Hồ Việt Hạnh (2017) “Bàn về khái niệm chính sách công”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 12). “Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định và hiện thực hóa các chính sách để đưa chính sách vào cuộc sống”. - Khái niệm chính sách đãi ngộ nhân lực ngành y tế Đãi ngộ được hiểu là quá trình chăm lo đời sống vật chất tinh thần của người lao động để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, qua đó góp phần hoàn thành mục tiêu của tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Đối với viên chức ngành y tế nói riêng và viên chức nói chung thì đãi ngộ là hệ thống chính sách của Đảng, quy định của chính quyền liên quan đến việc chi trả để đảm bảo viên chức có đời sống ổn định; đủ điều kiện, cơ hội để phát triển về trình độ, năng lực chuyên môn và khả năng phát triển trong công việc. Chế độ đãi ngộ tốt sẽ tạo động lực để viên chức y tế gắn bó với ngành, với nghề 15 và ngược lại.