CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE Y TE NGHỆ AN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Lý luận về dịch vụ và dịch vụ y tế Dịch vụ là một lĩnh vực rất rộng, dịch vụ nằm trong cau trúc nền sản xuất xã hội. Ngoài lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất ra, trong tổng sản phẩm quốc dân, sự đóng góp của khu vực dich vụ chiếm ty trọng ngày càng lớn.
Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và sự tiễn bộ văn minh nhân loại, lĩnh vực dịch vụ phát triển hết sức phong phú.Mác khi nghiên cứu về khái niệm dịch vụ cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục dé thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển". Như vậy, với định nghĩa trên, C.Mác đã chỉ rõ nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dich vụ. Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển thì song song với nó dịch vụ cũng sẽ ngày càng phát triển. Còn Adam Smith từng định nghĩa răng: "Dịch vụ là nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sỹ opera, vũ công.
Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra". Từ định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhắn mạnh đến khía cạnh "không tồn trữ được" của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời. Theo các tác giả Hoang Thị Thu Hương, 2011 trong luận văn với đề tài: Phát triển dịch vụ y tế thành phố Đà Nẵng (Luận văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành kinh tế phát triển - Trường đại học Đà Nẵng), tác giả Đoàn Thị Xuân Mỹ, năm 2011 trong luận văn: Phát triển dịch vụ y tế & các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi (Luận văn thạc sỹ kinh tế - Trường đại học Đà Nẵng) và tác 13 giả Bùi Thị Hằng, 2011 trong luận văn: Đây mạnh phát triển dịch vụ y tế tư nhân trên địa ban tỉnh Bình Dinh (Luận vặn thạc sỹ kinh tẾ - Trường đại học Đà Nẵng) đều cho rằng bản chất dịch vụ y tế thực chất là hàng hóa và dịch vụ y tế chính là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hang dé đáp ứng nhu cau về sức khỏe. Các tác giả đều đồng quan điểm cho rằng dịch vụ y tế là một dịch vụ đặc biệt, bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như: khám, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ phục vụ chăm sóc người bệnh và gia đình người bệnh.
Không giống các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ y tẾ có những đặc điểm riêng như người mua không có quyền lựa chọn mà do bên cung ứng quyết định. Dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền với sức khỏe, tính mạng con người nên không giống các nhu cầu khác, khi ốm đau mặc dù người bệnh không có tiền nhưng vẫn phải sử dụng. Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong tình trạng cấp cứu. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Minh, 2011 trong luận văn: Phát triển dịch Vụ y tế tư nhân ở Việt Nam (Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị - Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội) cũng có quan điểm tương tự khi đưa khái niệm dịch vụ y tế theo khái niệm hàng hóa, hàng hóa dịch vụ y tế là tất cả các loại hình dịch vụ chăm sóc, tư vấn liên quan đến sức khỏe con người.
Tác giả cho rằng dịch vụ y tế là một trong những dịch vụ công được nhiều quốc gia quan tâm, bởi dịch vụ y tế là một hàng hóa không những liên quan đến sức khỏe đời sống của con người, liên quan đến nguồn lực của cả một quốc gia mà còn liên quan đến sự phát triển lâu dài và bền vững của toàn bộ quốc gia đó. Nội dung và những yếu tổ cơ bản ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ y té Theo tac gia Dang Thi Lé Xuan, 2011 trong luan an tién sy VỚI dé tai: Xã hội hóa y tế ở Việt Nam: Lý luận - thực tiễn va giải pháp (Luận án tiến sỹ 14 kinh tế - Trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội), cho rằng phát triển dịch vụ y tế luôn là ưu tiên hàng đầu của mọi chính phủ. Đảm bảo cho người dân được thụ hưởng đầy đủ dịch vụ y tế có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cuộc sống, phản ánh kết quả của quá trình phát triển. Hơn nữa thành quả của y tế cũng là điều kiện của sự phát triển, là động lực cho sự phát triển đất nước.
Tác giả Hoàng Thị Thu Hương, trong nghiên cứu của mình cũng cho rằng phát triển dịch vụ y tế không chỉ là sự gia tăng thuần túy về mặt lượng mà nó còn là những biến đổi về mặt chất của ngành y tế mà trước hết là sự chuyền dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH- HĐH) và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ. Theo tác giả Hoàng Thị Thu Hương, Đoàn Thị Xuân Mỹ trong nghiên cứu của mình: có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ y tế như nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, thái độ phục vụ người bệnh nhưng quan trọng nhất là các chính sách của địa phương dành cho y tế. Tác giả Đặng Thị Lệ Xuân có nêu trong luận án tiến sỹ của mình, cho rằng nếu vận dụng lý thuyết kinh tế y tế (Health economics) thì thị trường dịch vụ y tế Việt Nam hiện nay và trong tương lai không thỏa mãn những tiêu chí của thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Chính vì thế khi xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ y tế cần chú ý đến vấn đề này.
Một điều kiện ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ là văn hóa và thói quen sử dụng dịch vụ y tế của người dân địa phương. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc trong bài: Tình hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân huyện Ba Vì - kết quả theo dõi tại cơ sở thực địa dịch té học năm 1999 (Tạp chí nghiên cứu y học. Số 22, trang 41 - 46) cho biết về tình hình sử dụng dich vụ y tế của người dan Ba Vi năm 1999, tỷ lệ 6m trong vòng 4 tuần là 47,7 %, và không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm kinh tế, văn hóa và nghề 15 nghiệp. Các cơ sở y tế tư nhân được sử dụng nhiều hơn, trong khi các trạm y tế được sử dụng với tỷ lệ thấp.
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ đến khám chữa bệnh tại bệnh viện cao hơn ở nhóm tuổi có trình độ học van cao và nhóm cán bộ nhà nước, công nhân. Không có sự khác biệt giữa các nhóm kinh tế về mô hình sử dụng dịch vụ y tế; nghề nghiệp là một yếu tố liên quan một cách có ý nghĩa thống kê đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bệnh viện. Theo nghiên cứu của đơn vị chăm sóc ban đầu - Bộ Y tế năm 1994 đến năm 1995 tại Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Long An, Cần Thơ, thì tỷ lệ người ốm đau tự mua thuốc về nhà mà không qua khám chữa bệnh là phổ biến. Nơi cao nhất là Long An (47 %), thấp nhất là Thừa Thiên Huế (28,9 %).
Theo một nghiên cứu được tiến hành qua phỏng van 1.000 hộ gia đình tại xã Cổ Nhué huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội về nơi đến khám chữa bệnh của người ốm trong vòng 2 tuần (trước khi điều tra): Trạm y tế xã là 26,10 %, y tế tư nhân là 16,44 %, bệnh viện 20,72 %, mua thuốc tự điều trị là 30,72 %, không chữa gì là 2,41 %. Năm 1997, Lữ Ngọc Kính, Nguyễn Thành Trung và cộng sự đã nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân ở xã Hợp Tiến-Đồng Hy-Thai Nguyên cho thấy tỷ lệ người ốm đến trạm y tế là 32,8 %. Liên quan đến vấn đền tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế tại các địa phương. Các tác giả Dương Đình Thiện, Phùng Văn Hoàn, Vũ Diễn và cộng sự nghiên cứu trong 2 năm 1997 - 1998 cho thấy: Chỉ có 33,8 % tổng số người dân dau ôm là đến khám tại Trạmy tế.
Theo thống kê của Bộ y tế trong năm 1993 sử dụng dịch vụ y tế tại các TYT xã, phường là: 38,7 %. Nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Thu Hà, năm 2003 trong luận văn của mình về đề tài: Mô tả nhu cầu khám chữa bệnh và việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây. (Luận văn thạc sỹ y tẾ công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội) mô tả nhu cầu KCB và việc sử dụng 16 dịch vụ KCB của người dân huyện Ba Vì, tinh Hà Tây 2003 cho thấy nhu cầu KCB của người nghèo cao hơn nhóm không nghèo gấp 1,5 lần, sử dụng dich vụ y tế của người nghèo chủ yếu ở tuyến huyện, tuyến xã, trong khi nhóm không nghèo sử dụng dịch vụ y tế ở tuyến huyện và tuyến tỉnh. Nhóm người giàu sử dụng dịch vụ điều trị nội trú tại bệnh viện nhiều hơn nhóm người nghèo 1,3 lần và có sử dụng nhiều các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, đắt tiền.
Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác nhau trong nhu cầu và sử dụng dịch vụ KCB của người dân trong bối cảnh nên kinh tế phát triển phân hóa giàu nghèo ngày càng mạnh; thể hiện sự thiệt thòi trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB của các đối tượng dé bị ton thương, người nghèo. Các nghiên cứu trong và ngoài nước của một số tác giả về sự tiếp cận va sử dụng dịch vu KCB ngay cả ở các nước đang phát trién cũng cho thấy có sự khác biệt trong việc lựa chọn dịch vụ KCB theo nhóm thu nhập. Tại Trung Quốc vào những năm 1960, 1970 đã đạt độ bao phủ về chăm sóc sức khỏe (CSSK) lên 95%, nhưng những rủi ro và nguy cơ về tài chính lớn dẫn đến mất công băng trong CSSK.