CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh Chiến lược (strategy) là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược: - Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Porter (1996) khi cho rằng “Chiến lược là là tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của công ty, qua đó tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo.
Cốt lỏi của chiến lược là tạo ra sự khác biệt về cạnh tranh. Theo ông chiến lược là sự tạo ra vị thế độc đáo, và có giá trị bao gồm sự khác biệt, sự lựa chọn đánh đổi, nhằm tập trung nguồn lực để từ đó tạo ra ưu thế cho tổ chức. - Theo McKinsey (1978) chiến lược là một tập hợp các chuỗi hoạt động được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bềnh vững. Theo như James B.
Quui (1980) thì “Chiến lược là sự tập hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, các chuỗi hoạt động của DN thành một tổng thể”. Tóm lại, có thể hiểu chiến lược kinh doanh là những định hướng một cách bài bản cho những bước đi của DN từ hiện tại hướng tới tương lai, ở đó DN phải giành được lợi thế cạnh tranh thông qua việc kết hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức. Các định hướng 9 này giúp DN định hình được con đường đi của mình, từng bước tích lũy các nguồn lực và sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu nhất. Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển và tồn tại trong mỗi DN.
Một CLKD đúng đắn sẽ đưa DN đi đúng hướng và nhờ nó mà nhiều DN thành công và phát triển vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh để tạo vị thế cho DN mình trên thị trường. CLKD mang lại cho DN rất nhiều lợi ích như: - Định hướng được các hoạt động ngắn và dài hạn, là nền tảng vững chắc cho các hoạt động của DN. Nhờ vào việc phân tích và dự báo trước môi trường bên trong và bên ngoài của DN mà đưa ra CLKD phù hợp giúp DN chủ động và linh hoạt thích ứng với thị trường có nhiều biến động. - Là nền tảng giúp DN chủ động phát triển hoạt động DN và các hướng kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường trong từng giai đoạn khác nhau.
Nhờ có CLKD đúng đắn, DN nắm bắt được các cơ hội trước đối thủ cạnh tranh cũng như hạn chế các nguy cơ đe doạ đến hoạt động của DN. - CLKD giúp DN liên kết được các cá nhân trong tổ chức hướng hết một mục tiêu chung để cùng nhau xây dựng và phát triển. Tạo ra sự gắng kết các mối quan hệ trong DN nhằm tăng cường và nâng cao nguồn nhân lực của DN. - Tạo cơ sở vững chắc cho các hoạt động triển khai, nghiên cứu và đầu bồi dưỡng nguồn nhân lực.
CLKD là công cụ giúp DN cạnh tranh rõ ràng và hiệu quả nhất. Quản trị chiến lược 1. Khái niệm về quản trị chiến lược Theo Alfred Chander, “quản trị chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của DN, lựa chọn cách thức phương hướng hành động và phân bổ tài nguyên thiết yếu để thực hiện mục tiêu đó”. Theo Boyden Robert Lamb tác giả trong tác phẩm Competitive Strategic Management xuất bản năm 1984: “Quản trị chiến lược là một quá trình diễn ra không 10 ngừng nhằm đánh giá quá trình kinh doanh và các ngành công nghiệp mà DN tham gia; đánh giá đối thủ cạnh tranh và thiết lập mục tiêu và chiến lược để bắt kịp và vượt qua tất cả đối thủ hiện tại cũng như tiềm năng và sau đó đánh giá lại mỗi chiến lược hàng năm hoặc hàng quý để xác định xem các chiến lược này đã được thực hiện như thế nào và công ty đã thực hiện thành công hay cần phải thay thế bằng chiến lược khác để kịp thời thích ứng với điều kiện thay đổi, công nghệ mới, đối thủ mới, môi trường kinh doanh mới, hoặc môi trường xã hội, tài chính hoặc chính trị mới.
Smith “quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai”. David “quản trị chiến lược có thể định nghĩa như một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”. Trong định nghĩa này, quản trị chiến lược tập trung vào việc hợp nhất việc quản trị, tiếp thị, tài chính kế toán, sản xuất, nghiên cứu phát triển và các hệ thống thông tin, các lĩnh vực kinh doanh để đạt được thành công của tổ chức. Tóm lại, Quản trị chiến lược là tổng hợp các mục tiêu, kế hoạch, hoạch định có căn cứ và cơ sở mà tổ chức dựa vào đó để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát phương thức kinh doanh cho DN, nó diễn ra theo chu kỳ thời gian và được lập đi lập lại để tận dụng mọi cơ hội cũng như thách thức loại bỏ các nguy cơ, rủi ro và đe doạ trên con đường thực hiện mục tiêu trong ngắn hạn hoạt dài hạn của DN.
Vai trò của quản trị chiến lược Quản trị chiến lược có vai trò vô cùng quan trọng trong một DN, nếu ví DN như 1 cái cây, thì quản trị chiến lược chính là thân cây, góp phần xây dựng hệ thống quản lý một cách bài bản, chuyên nghiệp và vận hành tốt. Quản trị chiến lược bao trùm tất cả 11 các quản trị chức năng và hệ thống quản trị ở cấp DN. Là một hoạt động diễn ra liên tục và xuyên suốt, duy trì phương hướng và hoạt động kinh doanh của một DN. Quản trị chiến lược có vai trò như là một quá trình ra quyết định hằng ngày để giải quyết những tình huống xảy ra, thay đổi có liên quan từ tác động của môi trường bên trong và bên ngoài gây ảnh hưởng đến DN.
Cũng như một phần ý tưởng của chiến lược về hoạt động phát triển kinh doanh nhà quản trị phải vạch ra một hướng đi cụ thể, những chính sách và mục tiêu có tác động đến đến mọi mặt kinh doanh sẽ làm thay đổi phương hướng hoạt động của DN theo một chiều hướng khác. Khi đó nhà quản trị phải đưa ra quyết định nên có những hành động điều chỉnh để đi đúng hướng như ban đầu đề ra hay quyết định đi theo một hướng hoàn toàn mới. Mỗi quyết định của nhà quản trị đều ảnh hưởng đến mục tiêu của DN. “Quản trị chiến lược đóng vai trò xây dựng tầm nhìn chiến lược, hoạch định sứ mạng kinh doanh, thiết lập các mục tiêu chiến lược thông qua phân tích môi trường bên ngoài, môi trường bên trong và xây dựng, lựa chọn chiến lược.
Xây dựng tầm nhìn chiến lược và hoạch định sứ mạng kinh doanh chính giúp các nhà quản lý trả lời các câu hỏi về mục đích tồn tại của DN. Thiết lập các mục tiêu chiến lược hướng đến trả lời câu hỏi DN muốn đạt được gì, tại thời điểm nào. Quản trị chiến lược cho phép mục tiêu chiến lược đưa ra gắn kết với sứ mạng và được thiết lập trên cơ sở các phân tích cẩn trọng, khoa học. Ngoài ra, hoạt động phân tích môi trường bên trong và bên ngoài DN đảm bảo chiến lược DN đưa ra có tính khả thi cao.
Môi trường bên trong DN liên quan đến nhân lực, tài chính, quản lý… còn môi trường bên ngoài chính là môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội, môi trường ngành, đối thủ cạnh tranh… Sau khi phân tích, kết hợp với các mục tiêu, quản trị chiến lược cho phép nhà chiến lược xây dựng và lựa chọn chiến lược phù hợp và hiệu quả. Theo Stoner, 1994 “Quản trị chiến lược thiết lập các mục tiêu chiến lược cho DN, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. Các mục tiêu cụ thể trong mọi hoạt động, mọi cấp bậc quản lý, từ cấp cao nhất đến thấp nhất trong cấu trúc 12 tổ chức, có tác động đến sự tồn vong và thành công của DN. Hoạch định các mục tiêu chính thống không chỉ góp phần chuyển các định hướng, tầm nhìn thành các mục tiêu cụ thể cần đạt được, mà còn tránh sự sai lệch, nhầm lẫn về định hướng dài hạn của DN.
Cả mục tiêu ngắn hạn và dài hạn đều cần thiết. Các mục tiêu chiến lược tổng thể mang tính tổng quát là vị thế trên thị trường và vị thế cạnh tranh mà DN hướng đến, mức lợi nhuận hàng năm, kết quả tài chính và sản xuất kinh doanh. Vì các mục tiêu cần phải được thiết lập tại mọi cấp bậc và bộ phận trong DN, quản trị chiến lược tập hợp sự tham gia của tất cả các thành viên trong DN, bao gồm cả các nhà quản lý; giúp họ xác định một cách rõ ràng và đo lường được phạm vi công việc, mục tiêu và đóng góp của mình vào sự thành công của chiến lược DN.” Tóm lại, Hoạt động quản trị chiến lược đóng một vai trò đáng kể đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, Nếu quản trị chiến lược đúng và triển khai liên tục có hiểu quả thì DN đạt hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và ngược lại. Vì vậy, hoạt động quản trị cần phải linh hoạt trước những thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài.
Mô hình quản trị chiến lược Theo Fred R. David, Quản trị chiến lược là một quá trình gồm 3 giai đoạn: hình thành chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá kiểm tra chiến lược. Các giai đoạn này được thực hiện liên tiếp tuần hoàn với nhau. Mỗi chiến lược ở hiện tại cũng có thể là hướng đi, kế thừa trong tương lai.