Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương này trình bày các lý do, câu hỏi, mục tiêu, đối tượng cũng như phạm vi, phương pháp nghiên cứu của đề tài và cấu trúc bài nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nêu các khái niệm, các lý thuyết có liên quan đến bài nghiên cứu. Đồng thời, nêu các kết quả thực nghiệm của những bài nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề khởi nghiệp, từ đó rút ra nhận xét, so sánh, đề xuất mô hình và giả thuyết cho đề tài nghiên cứu. 3 - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày các phương pháp luận, bao gồm các bước quy trình nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi, thu thập dữ liệu, xây dựng thang đo cho các biến số.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày phân tích dữ liệu và kết quả phân tích dữ liệu, thảo luận kết quả nghiên cứu. - Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiến của đề tài và đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris &cs, 2007); là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007).
Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz & Wagner, 2010). Ý định khởi nghiệp của sinh viên xuất phát từ các ý tưởng của sinh viên và được định hướng đúng đắn từ chương trình giáo dục và những người đào tạo (Schwarz &cs, 2009). Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa ý định khởi nghiệp của sinh viên. Các lý thuyết nền - Các lý thuyết nền khác nhau được các nghiên cứu trước sử dụng làm nền tảng cho các mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp.
Nghiên cứu này tổng kết được ba hướng tiếp cận dựa trên các nhóm lý thuyết nền. - Hai hướng tiếp cận đầu tiên có thể được suy diễn và giải thích bởi lý thuyết thể chế và các lý thuyết về văn hóa. Lý thuyết liên quan đến thể chế (institutional theory) được đề xuất bởi North, (1990) được sử dụng để giải thích cho mối quan hệ giữa chương trình giáo dục khởi nghiệp và các yếu tố thuộc nhóm môi trường. Thể chế góp phần hình thành nên các cấu trúc xã hội mà ở đó các tổ chức được vận hành thông qua các chính sách (Fligstein, 1997), do đó thể chế định hình các chính sách về giáo dục, kinh tế và luật pháp.
Ở các xã hội mà các chính sách luật pháp rõ ràng, các nguồn lực vật chất, tri thức hỗ trợ cho sự hình thành doanh nghiệp được cung cấp đầy đủ, các doanh nghiệp sẽ có động lực lớn để hình thành và phát triển (Nguyen & cs, 2009). Lý thuyết các khuynh hướng văn hóa (Hofstede, 1980), thuyết giá trị (Schwartz & cs, 2001) có thể giải thích cho sự khác biệt về “văn hóa quốc gia” lên các mối quan hệ đề cập trong mô hình các yếu tố tác động đến dự định khởi nghiệp. Cốt lõi của văn hóa là giá trị, giá trị của mỗi cá nhân trong một xã hội thể hiện qua quan điểm, suy nghĩ, niềm 5 tin và hành vi của họ (Hofstede & cs, 2010) và điều này có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ, ý định của sinh viên về khởi nghiệp. - Lý thuyết về các tính cách (traits theory) kết hợp với thuyết động cơ (Maslow, 1970); thuyết giá trị kết hợp thuyết hành vi hoạch định (Ajzen, 1991) được sử dụng để giải thích cho mối quan hệ thuộc hướng tiếp cận thứ ba.
Theo hướng tiếp cận này những tính cách khác nhau của mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng đến ý định hành vi của họ, do đó những tính cách khác nhau có thể ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp (Espíritu- Olmos & Sastre-Castillo, 2015), thái độ đối với khởi nghiệp ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên được đề xuất và kiểm định bởi (Boissin &cs, 2009; Wu & Wu, 2008). - Hướng tiếp cận thứ nhất: chương trình giáo dục và ý định khởi nghiệp của sinh viên Aşkun & Yildirim (2011) đã chứng minh rằng các khóa học khởi nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nghiên cứu của họ ủng hộ việc tạo lập doanh nghiệp thông qua chương trình giáo dục khởi nghiệp. + Hong &cs (2012) cho rằng chất lượng khởi nghiệp của sinh viên liên quan tới chương trình giáo dục khởi nghiệp vì nó làm giàu kiến thức về khởi nghiệp và làm phát triển các kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên. Trường đại học phải tập trung chú ý nhiều hơn nữa đến chương trình giáo dục khởi nghiệp của mình, tập trung vào các doanh nghiệp sinh viên, kết nối với xã hội, trao cho sinh viên nhiều cơ hội khởi nghiệp và phải chú trọng đến cơ hội thực tập va chạm thực tế của sinh viên (Hong & cs, 2012).
+ Với chủ đề huấn luyện khởi nghiệp thực tế, Taatila & Down (2012) kết luận sinh viên ở những chương trình đào tạo khác nhau có xu hướng khởi nghiệp khác nhau; sinh viên có trải nghiệm về doanh nghiệp có xu hướng khởi nghiệp cao hơn sinh viên chưa có trải nghiệm về doanh nghiệp; sinh viên xem khởi nghiệp là một nghề tích cực sẽ có xu hướng khởi nghiệp cao hơn sinh viên xem khởi nghiệp là một nghề tiêu cực. Kết quả này mâu thuẫn với kết quả nghiên cứu của Kuckertz & Wagner (2010) vì nhóm tác giả này chứng minh người chưa có va chạm thực tế về doanh nghiệp có xu hướng kiên định về khởi nghiệp cao hơn người đã có va chạm thực tế về doanh nghiệp. Trong khi đó, Dodescu & cs (2014) lại kết luận rằng thời gian thực tập thúc đẩy sinh viên ngành kinh tế khởi nghiệp. 6 + Những mâu thuẫn về kết quả kể trên cho thấy cần phải đánh giá chương trình thực tập cuối năm thứ 4 bậc cử nhân của các ngành kinh doanh, thương mại.
ở môi trường Việt Nam theo hướng nghiên cứu khám phá. Khi xem xét sự tác động của “môi trường trường đại học” đến “ý định khởi nghiệp”, trong cùng năm 2009 có hai nghiên cứu cùng được công bố là nghiên cứu của Schwarz &cs (2009) và Turker & Selcuk (2009). Điểm chung của hai nhóm tác giả này khi đánh giá yếu tố “môi trường giáo dục” là xem xét môi trường giáo dục nói chung có khuyến khích ý tưởng, sáng kiến khởi nghiệp của sinh viên hay không (ví dụ: “sự giáo dục của trường đại học mà tôi đang học khuyến khích tôi sáng tạo các ý tưởng khởi nghiệp”) hoặc kiến thức, nội dung của môn học mang lại ý tưởng khởi nghiệp và kỹ năng cho sinh viên. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai nhóm tác giả này là trong khi Turker & Selcuk (2009) xem xét các bộ phận chức năng chuyên trách hỗ trợ cho ý tưởng khởi nghiệp của sinh viên thì Schwarz & cs (2009) chú trọng bầu không khí sáng tạo trong giảng dạy và học tập tạo cảm hứng cho sinh viên khởi nghiệp.
+ Từ hai khái niệm nghiên cứu của hai nhóm tác giả, nghiên cứu này đề xuất tách hai khái niệm được đặt tên “đánh giá chương trình học” liên quan đến các nội dung như đánh giá của người học về kiến thức, kỹ năng mà họ nhận được thông qua quá trình học các môn học được rút trích từ nhóm Turker và “môi trường đại học” nói chung liên quan đến các chính sách của trường đại học, các phòng chức năng và bầu không khí của trường đại học thông qua các nội dung trong khái niệm của Schwarz &cs (2009). Nghiên cứu này đề xuất nên kiểm định mô hình ở bối cảnh Việt Nam, mục đích là để sinh viên Việt Nam (trường kỹ thuật và trường kinh doanh) đánh giá xem chương trình học hiện nay có khuyến khích ý định khởi nghiệp của họ hay không, nếu có thì ở mức độ nào và có bằng chứng thống kê cho mối quan hệ giữa chương trình giáo dục và ý định khởi nghiệp của sinh viên không? + Từ các kết quả nghiên cứu trước, có thể cho mối quan hệ thuộc hướng tiếp cận thứ ba. Theo hướng tiếp cận này những tính cách khác nhau của mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng đến ý định hành vi của họ, do đó những tính cách khác nhau có thể ảnh hưởng đến dự định khởi nghiệp (Espíritu-Olmos & Sastre-Castillo, 2015), thái độ đối với khởi nghiệp ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên được đềxuất và kiểm định bởi (Boissin &cs, 2009; Wu & Wu, 2008). Hướng tiếp cận thứ nhất: chương trình 7 giáo dục và ý định khởi nghiệp của sinh viên Aşkun & Yildirim (2011) đã chứng minh rằng các khóa học khởi nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, nghiên cứu của họủng hộ việc tạo lập doanh nghiệp thông qua chương trình giáo dục khởi nghiệp.
Hong &cs (2012) cho rằng chất lượng khởi nghiệp của sinh viên liên quan tới chương trình giáo dục khởi nghiệp vì nó làm giàu kiến thức về khởi nghiệp và làm phát triển các kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên. Trường đại học phải tập trung chú ý nhiều hơn nữa đến chương trình giáo dục khởi nghiệp của mình, tập trung vào các doanh nghiệp sinh viên, kết nối với xã hội, trao cho sinh viên nhiều cơ hội khởi nghiệp và phải chú trọng đến cơ hội thực tập va chạm thực tế của sinh viên (Hong & cs, 2012). Với chủ đề huấn luyện khởi nghiệp thực tế, Taatila & Down (2012) kết luận sinh viên ở những chương trình đào tạo khác nhau có xu hướng khởi nghiệp khác nhau; sinh viên có trải nghiệm về doanh nghiệp có xu hướng khởi nghiệp cao hơn sinh viên chưa có trải nghiệm về doanh nghiệp; sinh viên xem khởi nghiệp là một nghề tích cực sẽ có xu hướng khởi nghiệp cao hơn sinh viên xem khởi nghiệp là một nghề tiêu cực. Kết quả này mâu thuẫn với kết quả nghiên cứu của Kuckertz & Wagner (2010) vì nhóm tác giả này chứng minh người chưa có va chạm thực tế về doanh nghiệp có xu hướng kiên định về khởi nghiệp cao hơn người đã có va chạm thực tế về doanh nghiệp.
Trong khi đó, Dodescu & cs (2014) lại kết luận rằng thời gian thực tập thúc đẩy sinh viên ngành kinh tế khởi nghiệp.