CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHIẾN LƯỢC MỞ RỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA TẬP ĐOÀN VIETTEL 1. Cơ sở lý luận về chiến lược trong doanh nghiệp: 1. Khái niệm chiến lược doanh nghiệp: Thuật ngữ “chiến lược” đã được ra đời từ hàng ngàn năm trước, có nguồn gốc từ trong lĩnh vực quân sự và bắt nguồn từ nước Hy lạp cổ đại. Thời đó, chiến lược gắn liền với các cuộc chinh phạt của các đế quốc, khi mà những nhà chỉ huy quân sự muốn phân tích và đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của quân thù, kết hợp với thời cơ như thiên thời-địa lợi-nhân hoà để đưa ra những quyết định chiến lược quan trọng đánh mạnh vào những chỗ yếu nhất của quân địch nhằm giành thắng lợi trên chiến trường Ngày nay việc xây dựng và thực hiện chiến lược đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu và là nội dung cũng như chức năng quan trọng của quản trị doanh nghiệp, nó đang được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp.
Chiến lược hay chưa đủ, mà phải có khả năng tổ chức thực hiện tốt mới đảm bảo cho doanh nghiệp thành công. Có người cho: “Chiến lược kinh doanh là tập hợp những quyết định và hành động kinh doanh hướng mục tiêu để các nguồn lực của doanh nghiệp đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài” [ 29. tr21] Cũng có tác giả quan niệm: “Quản trị chiến lược là nghệ thuật và khoa học của việc xây dựng, thực hiện đánh giá các quyết định tổng hợp giúp cho mỗi tổ chức có thể đạt được các mục tiêu của nó”. tr7 ] Ngoài ra, còn có một số khái niệm khác về chiến lược kinh doanh: Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh ( Micheal Porter) [ 21.
tr15] 5 Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện” [7 ] Bruce Henderson, chiến lược gia đồng thời là người sáng lập ra Tập đoàn tư vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là việc đạt một công ty vào vị thế tốt hơn đối thủ để tạo ra giá trị cho khách hàng “ chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp các lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở lợi thế của bạn”. Ông tin rằng không tồn tại hai đối thủ cạnh tranh nếu cách kinh doanh giống hệt nhau.
Cần phải tạo ra sự khác biệt mới để có thể tồn tại. Michael Porter cũng tán đồng nhận định của Henderson: “ Chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt để tạo ra một giá tri tập hợp độc đáo”. Dù tiếp cận cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dựng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất:[27.
Tr5 ] - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp - Đưa ra các chương trình hành động tổng quát - Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Có thể hiểu, chiến lược kinh doanh là phân tích, tìm hiểu và đưa ra con đường cơ bản, phác họa quỹ đạo tiến triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhằm dẫn đắt đơn vị kinh doanh đảm bảo mục tiêu của đơn vị kinh doanh. Vai trò của chiến lược trong doanh nghiệp : Chiến lược doanh nghiệp giúp cho doanh nhiệp nhận rõ được mục đích hướng đi của mình trong tương lai làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Chiến lược doanh nghiệp đóng vai trò định hướng hoạt động trong dài hạn của doanh nghiệp, nó là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp. Sự thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược thiết lập không rõ ràng, không có 6 luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp mất phương hướng, có nhiều vấn đề nảy sinh chỉ thấy trước mắt mà không gắn được với dài hạn hoặc chỉ thấy cục bộ mà không thấy được vai trò của cục bộ trong toàn cục hoạt động của doanh nghiệp. - Chiến lược giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thương trường kinh doanh. - Chiến lược doanh nghiệp góp phần làm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững.
- Chiến lược doanh nghiệp tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp để ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường. Nó tạo ra cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển đào tạo bồi dưỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm. Trong thực tế phần lớn các sai lầm trong đầu tư, công nghệ, thị trường…đều xuất phát từ chỗ xây dựng chiến lược hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lược. Cội nguồn của thành công hay thất bại phụ thuộc vào một trong những yếu tố quan trọng là doanh nghiệp có chiến lược như thế nào.
Tr8 ] Như vậy, mỗi doanh nghiệp hoạt động trên thương trường muốn tồn tại, phát triển, muốn ứng phó được với những thay đổi thường xuyên diễn ra trên thị trường, muốn giành thắng lợi trong công cuộc cạnh tranh khốc liệt thì phải có một tầm nhìn xa, dự đoán trước được các biến động của môi trường hay nói cách khác là phải có một chiến lược kinh doanh phù hợp.3 Phân loại chiến lược: Có nhiều cách khác nhau để phân loại chiến lược, gồm: - Chiến lược thương mại: là chiến lược áp dụng cho toàn bộ các hoạt động thương mại của doanh nghiệp từ việc thu mua, cung cấp các yếu tố đầu vào đến việc phân phối tiêu thụ các sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp đó. - Chiến lược công nghệ và kỹ thuật: định hướng cho công tác nghiên cứu phát 7 triển đổi mới công nghệ, sản phẩm,… Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển như hiện nay thì chiến lược công nghệ và kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp. Đây chính là công cụ hữu ích tạo lợi thế cạch tranh cho doanh nghiệp. - Chiến lược tài chính: bao gồm các định hướng về quy mô nguồn hình thành và hiệu quả hình thành các định hướng đầu tư.
- Chiến lược con người: thể hiện phương hướng, biện pháp huy động và sử dụng nguồn nhân lực nhằm thực hiện thành công các bộ phận chiến lược trên. *Căn cứ vào các hoạt động tiếp thị + Chiến lược sản phẩm, + Chiến lược giá, + Chiến lược phân phối, + Chiến lược giao tiếp khuếch trương. *Căn cứ theo phạm vi chiến lược + Chiến lược chung (hay chiến lược tổng quát): đề cập những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài. Chiến lược này quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
+ Chiến lược bộ phận: là loại chiến lược cấp hai, loại này thông thường gồm chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến bán hàng. *Căn cứ theo bản chất của từng chiến lược - Chiến lược sản phẩm, - Chiến lược thị trường, - Chiến lược cạnh tranh, - Chiến lược đầu tư. *Căn cứ theo quy trình chiến lược - Chiến lược định hướng: Đề cập đến những định hướng biện pháp để đạt được các mục tiêu đó. Đây là phương án chiến lược cơ bản của doanh nghiệp.
- Chiến lược hành động: Là các phương án hành động của doanh nghiệp 8 trong từng tình huống cụ thể và các dự kiến điều chỉnh chiến lược. *Dựa vào căn cứ xây dựng chiến lược: - Chiến lược dựa vào khách hàng. - Chiến lược dựa vào đối thủ cạnh tranh. - Chiến lược dựa vào thế mạnh của công ty.
*Dựa vào các căn cứ để xây dựng chiến lược - Chiến lược dựa vào khách hàng Khách hàng là đối tượng phục vụ mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới, vì thế khách hàng là căn cứ cơ sở của chiến lược kinh doanh. Với sự tiến bộ của xã hội thì nhu cầu sử dụng hàng hóa của những nhóm người này khác những nhóm người kia. Vì thế tạo nên những thị trường hiện đại hóa không đồng nhất. Do đó doanh nghiệp phải nắm được và biết phân loại thị trường, phân loại khách hàng cho phù hợp với những nhóm khách hàng riêng biệt để phục vụ tốt hơn.
Có hai cách phân chia thị trường: Phân chia mục tiêu: Phân khách hàng theo mục đích sử dụng của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Ví dụ: Họ sử dụng để kinh doanh, bán lẻ hay tiêu dùng. Phân theo khả năng đáp ứng cho khách hàng: Cách này dựa vào khả năng và nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường, từ đó sẽ giúp doanh nghiệp chọn được thị phần phù hợp nhất với khả năng và nguồn lực của mình. Nhờ đó chiến lược kinh doanh có tính khả thi cao.
*Chiến lược dựa vào khả năng của doanh nghiệp: - Doanh nghiệp cần phải dựa vào khả năng của mình để hoạch định chiến lược kinh doanh. Do tiềm lực phát triển của các doanh nghiệp thường vượt lên trên nhu cầu thị trường nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này ngày càng trở lên khốc liệt và gay gắt, xu thế đòi hỏi phân chia thị trường ngày càng trở nên cấp thiết hơn. - Để nắm được thị trường thì doanh nghiệp phải chú trọng khai thác triệt để thế mạnh của mình khi xây dựng chiến lược. Phải biết phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả.
9 * Chiến lược dựa vào đối thủ cạnh tranh: - Khi xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải dựa vào sự so sánh khả năng của doanh nghiệp mình với các đối thủ cạnh tranh khác, từ đó tìm ra lợi của mình. - Lợi thế vô hình: Đó là uy tín, các mối quan hệ, điều kiện, địa điểm kinh doanh, thói quen sử dụng sản phẩm và dịch vụ của khách hàng. - Lợi thế hữu hình: Thường đánh giá qua khối lượng, chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, vốn đầu tư, giá cả, trình độ quản lý…Để so sánh tìm ra lợi thế của mình, doanh nghiệp nên sử dụng phương pháp phân chia nhỏ các vấn đề để phân tích, đối chiếu tìm ra những mặt mạnh của mình so với các đối thủ cạnh tranh.