Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ sử học "Chế độ công vụ của nhà Nguyễn dưới triều Gia Long và Minh Mệnh (1802-1841)" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Thu Hiền thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Phương Chi, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (Mã số: 9.13).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng con người là yếu tố trung tâm quyết định sự trong sạch và hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước cùng chế độ công vụ thời quân chủ. Dưới triều Nguyễn – triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, công cuộc tổ chức bộ máy và cải cách hành chính dưới thời vua Gia Long và Minh Mệnh đã xác lập nền tảng thể chế quản lý thống nhất trên quy mô toàn quốc. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, hoạt động khoa cử hoặc khảo sát tản mạn một số khía cạnh như tham nhũng, hình phạt trong từng đời vua riêng lẻ, hoặc nghiên cứu chung cả giai đoạn dài đến thời vua Tự Đức. Những vấn đề cốt lõi của chế độ công vụ như nghĩa vụ pháp lý, cơ chế giám sát, chế độ khảo xét, hoạt động thực thi công vụ cụ thể và mối tương quan giữa quy định pháp luật với thực tiễn thừa hành vẫn chưa được làm rõ một cách toàn diện và có hệ thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các nội dung liên quan đến chế độ công vụ dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mệnh; đánh giá hiệu quả thực thi công vụ, rút ra đặc điểm về chế độ công vụ thời kỳ này và chỉ ra các giá trị kế thừa đối với chế độ công vụ hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở hình thành và thực thi chế độ công vụ nhà Nguyễn dưới thời vua Gia Long và Minh Mệnh trên các bình diện chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, tư tưởng và truyền thống.
- Làm rõ các quy định về tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ đối với người thi hành công vụ dưới thời vua Gia Long và Minh Mệnh.
- Thống kê, xử lý nguồn tư liệu chính sử, chủ yếu là Đại Nam thực lục, để phục dựng và làm rõ các hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ thừa hành thời Gia Long và Minh Mệnh.
- Nhận xét những điểm tích cực, hạn chế về chất lượng, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ quan lại, rút ra các đặc điểm cơ bản của chế độ công vụ thời Gia Long – Minh Mệnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chế độ công vụ của nhà Nguyễn dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mệnh, bao gồm các quy định thể chế (tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, giám sát, khảo xét, thưởng phạt) và hoạt động thực thi công vụ trong thực tế của đội ngũ quan lại (quan văn, quan võ, lại viên) cùng lực lượng chức dịch cơ sở (Cai tổng, Lý trưởng).
- Phạm vi không gian: Không gian lãnh thổ thống nhất từ Bắc đến Nam, loại trừ vùng đất Chân Lạp (được đặt thành trấn Tây Thành vào năm 1835).
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 đến năm 1841, tính từ khi vua Gia Long thành lập vương triều Nguyễn đến khi kết thúc triều vua Minh Mệnh.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hệ thống quan lại và lực lượng thừa hành công vụ; hoạt động công vụ trên các phương diện quản lý hành chính, nhân sự, bang giao với Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển đảo, trị an, quản lý kinh tế - xã hội, đê điều, giám sát, khảo xét và tố tụng tư pháp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại, điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến chế độ công vụ thời Nguyễn theo từng nhóm nội dung:
Về tổ chức bộ máy nhà nước: Tác giả Đỗ Bang với Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn (1802-1884) (1997) và Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn: những vấn đề đặt ra hiện nay (1998) đã mô tả, so sánh bộ máy trung ương triều Nguyễn với quan chế Trung Quốc; Huỳnh Công Bá trong Định chế hành chính và quân sự triều Nguyễn (1802-1885) (2014) khảo sát cơ cấu vận hành hành chính, quân sự và tổng hợp các quy định về nghĩa vụ công chức theo Hoàng Việt luật lệ; Nguyễn Minh Tường trong Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1996) và Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ Việt Nam (từ năm 938 đến năm 1884) (2016) phân tích xu hướng tập quyền và cơ chế tuyển lựa, thưởng phạt quan lại thời Minh Mệnh; Nguyễn Minh Tường và Đỗ Bang với Chân dung các vua Nguyễn: phần I: vua Gia Long, phần II: vua Minh Mạng (2001) làm sáng tỏ chủ trương cai trị của hai vị vua đầu triều; Văn Tạo trong Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam (2006) đánh giá cuộc cải cách của Minh Mệnh. Các luận án tiến sĩ chuyên sâu gồm: Vũ Thị Phụng (1999) về văn bản quản lý nhà nước, Trần Thị Thanh Thanh (2000) về định chế quản lý nhà nước, Phan Tiến Dũng (2005) về bộ Công, Phạm Đức Anh (2014) về biến đổi mô hình nhà nước và so sánh hệ thống quan lại với nhà Lê, Minh, Thanh, Ngô Đức Lập (2014) về cơ quan giám sát triều Nguyễn; cùng các nghiên cứu của Đào Tố Uyên, Nguyễn Cảnh Minh (1995), Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Danh Phiệt (1995), Nguyễn Công Việt (2009, 2013).
Về tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ và nghĩa vụ của quan chức: Các công trình của Trần Văn Giáp (1941), Cao Xuân Dục (1993), Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phương (1995), Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường, Hoàng Phương (1998), Trần Thanh Tâm (1999), Phan Ngọc Liên, Trần Viết Thụ, Đặng Văn Hồ (2006), Đỗ Văn Ninh (2006), Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Hồng Hà (2007), Nguyễn Công Lý (2011), Đinh Văn Niêm (2011), Nguyễn Ngọc Quỳnh (2011), Trần Trọng Kim (1921), Nguyễn Quang Thắng (1993), Phan Hữu Dật (1994), Lê Thị Thanh Hòa (1998), Đỗ Thị Hương Thảo (2017). Vấn đề lương bổng, trang phục, chính sách đãi ngộ được khảo sát trong nghiên cứu của Trần Quang Đức (2013) về mũ áo, Lê Quang Chắn (2015) về chính sách xã hội, Nguyễn Minh Tường (2015) về chế độ tiền lương; các bài viết của Bùi Xuân Đính (2000, 2003), Nguyễn Thị Việt Hương (2008), Bùi Huy Khiên (2006), Nguyễn Thị Phương Chi (2008), Nguyễn Văn Khoan (2008), Lê Nguyễn Lưu và Phan Tấn Tô (2007).
Về hoạt động thực thi công vụ và phòng chống tham nhũng: Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc (1994) khảo sát quản lý làng xã; Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang (1997) nghiên cứu quản lý ruộng đất; Trần Nam Tiến (2006) về ngoại giao phương Tây; Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2017) về ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc; Trần Hồng Nhung (2010, 2015) về phòng chống tham nhũng và trách nhiệm bồi thường; Trương Minh Dục (2014), Nguyễn Quang Ngọc (2017), Đỗ Bang (2017), Lê Tiến Công (2017), Nguyễn Thị Phương Chi và Nguyễn Kỳ Nam (2014), Trịnh Khắc Mạnh (2013) về hoạt động thực thi chủ quyền biển đảo, Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển miền Trung; Phan Đại Doãn (2010) về công cuộc khẩn hoang của Nguyễn Công Trứ. Về phía học giả nước ngoài, các công trình của Alexander Barton Woodside (1988) so sánh mô hình nhà nước Nguyễn với nhà Thanh, Shimao Minoru (2001) về khoa cử ở Bắc Bộ, Yoshiharu Tsuboi (1999) về tầng lớp quan chức văn thân, Emmanuel Poisson (1999, 2006) về cơ cấu đào tạo, tập sự và lương bổng của quan lại.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên đã cung cấp bức tranh về từng mảng cơ chế, cơ quan hoặc giai đoạn lịch sử, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên khảo, có hệ thống và bao quát toàn bộ thiết chế công vụ thời Gia Long và Minh Mệnh. Luận án đi sâu giải quyết mối tương quan giữa quy định pháp luật và thực tiễn thực thi công vụ, hệ thống hóa các số liệu về sai phạm, khảo xét, lương bổng và trách nhiệm pháp lý của đội ngũ thừa hành công vụ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét các hiện tượng và thiết chế chính trị - pháp lý trong mối liên hệ lịch sử cụ thể, liên tục và kế thừa.
Các khái niệm then chốt được tác giả xác định dựa trên Từ điển Luật học, Từ điển Pháp - Việt và Từ điển Hán - Việt:
- Chế độ: Tổng thể các quy tắc, hệ thống các quy định pháp luật cần phải tuân thủ trong một quan hệ xã hội nhất định (phân biệt với thể chế mang nội hàm rộng hơn).
- Công vụ: Công việc mang tính nhà nước vì lợi ích chung của xã hội và nhà nước, do các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức hoặc cá nhân được ủy quyền thực hiện theo quy định pháp luật.
- Quan lại: Những người giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước quân chủ, có nhiệm vụ và quyền hạn tham gia quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn; trong đó "quan" giữ vai trò tư vấn, lãnh đạo, triển khai quyền lực nhà nước, còn "lại" là người thừa hành mệnh lệnh, đóng vai trò trung gian giữa quan và dân.
- Khung tư tưởng chi phối: Tư tưởng Nho giáo với nguyên tắc "tôn quân", "tôn quân quyền" (toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào Hoàng đế) và quan niệm "thiên hạ vi công" (đất đai, thần dân đều thuộc quyền tối cao của nhà vua, do đó mọi thần dân và quan chức đều gánh vác nghĩa vụ công vụ đối với nhà nước).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan quá trình hình thành, biến đổi của chế độ công vụ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1841 theo tiến trình không gian và thời gian.
- Phương pháp logic: Làm sáng tỏ bản chất, tính quy luật và sự vận động nội tại của thiết chế công vụ dưới chế độ quân chủ tập quyền.
- Phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại: So sánh cơ cấu chức quan, phẩm hàm của triều Nguyễn với triều Lê sơ và triều Minh, Thanh (Trung Quốc); so sánh sự khác biệt trong tổ chức bộ máy, tuyển dụng, đãi ngộ và khảo xét giữa triều vua Gia Long và triều vua Minh Mệnh; so sánh các điều khoản về nghĩa vụ, hình phạt giữa Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ.
- Phương pháp phân tích định lượng và thống kê: Khai thác, xử lý, định lượng số liệu lịch sử từ Đại Nam thực lục, Hội điển, Châu bản về số lượng văn bản ban hành, các vụ việc xử lý kỷ luật, số lượng sớ tấu, mức lương bổng và cơ cấu đỗ đạt khoa cử.
Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án:
- Sử biên niên: Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
- Hội điển, điển chế, pháp luật cổ: Hoàng Việt luật lệ, Quốc triều hình luật, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam điển lệ toát yếu, Minh Mệnh chính yếu.
- Sách thể chí: Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí.
- Nguồn tài liệu lưu trữ gốc: Châu bản triều Nguyễn cùng các văn bia, tài liệu Hán Nôm và tạp chí chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến bộ máy nhà nước, tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ quan lại, giám sát và hoạt động công vụ triều Nguyễn. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây tiếp cận đề tài ở các góc độ khác nhau nhưng chưa xem xét chế độ công vụ như một chỉnh thể thống nhất kết hợp giữa quy định pháp luật và hoạt động thực thi thực tế trong giai đoạn 1802-1841. Trên cơ sở đó, chương này xác định rõ các nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung giải quyết.
Chương 2: Cơ sở hình thành và thực thi chế độ công vụ dưới triều vua Gia Long và Minh Mệnh
Chương 2 phân tích các tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, pháp luật và truyền thống lịch sử định hình chế độ công vụ:
- Cơ sở chính trị: Sự chuyển đổi mô hình quản lý từ phân quyền thời Gia Long (duy trì Bắc Thành với 5 nội trấn, 6 ngoại trấn; Gia Định Thành với 5 trấn; phủ Thừa Thiên gồm 4 doanh, 7 trấn) sang mô hình quân chủ tập quyền cao độ dưới thời Minh Mệnh. Năm 1831-1832, vua Minh Mệnh bãi bỏ cấp Thành và Trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên; chia phủ, huyện thành 4 loại (tối yếu khuyết, yếu khuyết, trung khuyết, giản khuyết vào năm 1827). Tại trung ương, thiết lập Nội các (năm 1829, quy mô gọn nhẹ khoảng 30 nhân viên so với 250 quan viên của Nội các nhà Minh - Thanh), Viện Cơ mật (năm 1834), kiện toàn Lục bộ (nâng số trưởng quan lên 5 người gồm Thượng thư, 2 Tả Hữu Tham tri, 2 Tả Hữu Thị lang; lập 26 Thanh lại ty), thành lập Đô sát viện (năm 1832) và Đại lý tự (năm 1831, kết hợp Bộ Hình và Đô sát viện thành Tam pháp ty). Cấp xã được cơ cấu lại căn cứ theo quy mô đinh: dưới 50 đinh đặt 1 Lý trưởng; trên 50 đinh thêm 1 Phó lý; trên 150 đinh đặt thêm 2 Phó lý; đồng thời bãi bỏ thổ quan, đặt lưu quan tại vùng dân tộc thiểu số.
- Tổ chức quân đội: Gồm 5 quân (Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu); chia 3 loại lính ở Kinh (Thân binh, Cấm binh, Tinh binh) cùng lính cơ, lính mộ ở địa phương. Quân đội phát triển thành các binh chủng: Bộ binh, Thủy binh, Tượng binh, Kỵ binh, Pháp binh. Thời Gia Long, Bộ binh có 115.000 người, Thủy binh có 17.600 người, 200 chiến hạm, 500 chiến thuyền, 100 thuyền buồm lớn. Đến năm 1838 thời Minh Mệnh, tổng quân số đạt 212.250 người; Thủy quân hoàn thiện thành 15 vệ chia làm 3 doanh (Trung, Tả, Hữu).
- Hệ thống pháp luật: Hoàng Việt luật lệ ban hành năm 1815 gồm 398 điều (trong đó 10 điều về quyền lợi quan lại, 122 điều về nghĩa vụ, 125 điều về Ngũ hình, 9 điều về phạt tiền, 17 điều về hình phạt khác như bãi chức, giáng chức, cách chức). Tổng số văn bản ban hành để sắp xếp đội ngũ quan lại đạt 423 văn bản (Gia Long: 87 văn bản; Minh Mệnh: 336 văn bản).
- Cơ sở kinh tế và ngân khố: Đo đạc ruộng đất, lập địa bạ (từ 1803 đến 1836); thu thuế điền, thuế đinh, thuế thuyền buôn và khai thác 95 mỏ khoáng sản (4 mỏ diêm tiêu, 6 chì, 2 kẽm, 23 sắt, 11 đồng, 49 vàng).
Bảng dưới đây tổng hợp mức tô thuế ruộng đất qua các thời kỳ được tác giả trích xuất:
| Khu vực |
Thời Gia Long: Ruộng công (kg thóc/mẫu) |
Thời Gia Long: Ruộng tư (kg thóc/mẫu) |
Thời Minh Mệnh: Ruộng công (kg thóc/mẫu) |
Thời Minh Mệnh: Ruộng tư (kg thóc/mẫu) |
| Vùng núi phía Bắc |
70 (62) |
22 (22) |
124 (124) |
43 (43) |
| Đồng bằng trung du Bắc Bộ và Thanh Nghệ Tĩnh |
132 (124) |
52 (43) |
124 (124) |
43 (43) |
| Trung và Nam Trung Bộ |
85 (66) |
85 (66) |
66 (66) |
72 (66) |
| Vùng Nam Bộ |
- |
- |
74 (54) |
74 (54) |
(Ghi chú: Số trước ngoặc là tổng số thuế phải nộp gồm hiện vật và phụ thu quy đổi; số trong ngoặc là phần thuế nộp bằng hiện vật thóc).
Chương 3: Tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ thực thi công vụ
Chương 3 trình bày các quy định và thực tiễn thực hiện chính sách nhân sự:
- Tuyển chọn: Kết hợp khoa cử Nho học (thi Hương, thi Hội, thi Đình), tiến cử, tập ấm và tuyển mộ. Thời Gia Long chú trọng trọng dụng võ quan và chiêu dụ cựu thần triều Lê; thời Minh Mệnh chuyển mạnh sang tuyển chọn quan văn qua khoa cử chính quy, chuẩn hóa nội quy trường thi và tiêu chuẩn học vị.
- Sử dụng: Ban hành quy chế tập sự (hành tẩu, hậu bổ tại các bộ), quy định tiêu chuẩn bổ nhiệm, luân chuyển công tác, quy chế hồi tị (cấm làm quan tại quê quán, nơi có quan hệ gia tộc hoặc thông gia), chế độ khảo xét định kỳ (khảo khóa, sơ khảo, đại khảo) và chế độ hưu trí.
- Đãi ngộ: Chế độ lương bổng (tiền, gạo), cấp tiền dưỡng liêm cho quan lại cấp tỉnh và huyện nhằm phòng ngừa tham nhũng, quy chế trang phục mũ áo theo phẩm hàm, ban cấp tước phẩm, ân điển và chế độ cấp kỷ lục (kỷ lục quân công, nghĩ tự, ân thưởng).
Chương 4: Hoạt động thực thi công vụ
Chương 4 khảo sát các hoạt động công vụ cụ thể của đội ngũ thừa hành:
- Quản lý hành chính và nhân sự: Thiết lập quy trình xử lý văn bản, tấu sớ, chế độ thỉnh an của quan đầu tỉnh. Từ năm 1802 đến 1826, có 1.581 bản tấu của đình thần và quan lại gửi lên vua (thời Gia Long: 20 bản; Minh Mệnh: 1.561 bản).
- Hoạt động bang giao: Tổ chức các đoàn sứ bộ sang triều Thanh (Trung Quốc), tiếp đón sứ thần và thực hiện việc quản lý biên giới.
- Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và trị an: Hoạt động tuần tra ven biển, phòng chống hải tặc (Tàu Ô ở Đông Bắc, Chà Và ở phía Nam), cứu hộ tàu thuyền nước ngoài gặp nạn; cử các đội thủy quân và dân binh (đội Hoàng Sa, Bắc Hải) tiến hành đo vẽ bản đồ, cắm mốc, khảo sát và thực thi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; trấn áp các cuộc nổi dậy bảo vệ trị an.
- Quản lý đời sống cư dân: Khẩn hoang lập ấp (điển hình là công cuộc khai hoang lập huyện Tiền Hải, Kim Sơn của Nguyễn Công Trứ), đo đạc lập địa bạ, tu bổ đê điều phòng chống lụt bão, cứu trợ thiên tai và quản lý tôn giáo, phong tục.
- Giám sát, khảo xét và tố tụng: Hoạt động thanh tra của Đô sát viện, Lục khoa, Giám sát ngự sử các đạo, Kinh lược đại sứ; tiếp nhận mật tấu, xử lý việc dân đánh trống đăng văn; xét xử tư pháp theo mô hình Tam pháp ty và phân cấp thẩm quyền từ phủ, huyện lên trung ương.
Chương 5: Nhận xét, đặc điểm và giá trị kế thừa
Chương 5 phân tích các đặc trưng cơ bản và tính hiệu quả của chế độ công vụ:
- Nhận xét và đặc điểm: Chế độ công vụ vận hành theo nguyên tắc tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay nhà vua; chuyển dịch từ chế độ sử dụng võ quan thời lập quốc sang chế độ quan liêu Nho học quy củ, trọng văn; hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở; luật pháp quy định nghiêm ngặt về trách nhiệm công vụ và chế tài trừng trị tham nhũng.
- Thống kê các sai phạm và hình phạt: Khảo sát thực tế số lượng quan lại vi phạm kỷ luật, tham nhũng ở trung ương và địa phương, các mức độ áp dụng hình phạt thực tế từ phạt tiền, giáng cấp, cách chức đến ngũ hình.
- Giá trị kế thừa đối với chế độ công vụ hiện nay:
- Tuyển chọn công chức công khai, minh bạch, lấy tiêu chuẩn năng lực và phẩm chất làm thước đo.
- Thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá, khảo sát kết quả công việc thực tế, phân định rõ chức trách, thẩm quyền.
- Kết hợp đãi ngộ vật chất tương xứng (chính sách tiền lương, phụ cấp liêm chính) với giáo dục đạo đức công vụ.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát quyền lực, áp dụng chế tài nghiêm minh đối với các hành vi tiêu cực, tham nhũng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả và đóng góp khoa học mới cụ thể:
- Về mặt lý luận và tư liệu: Đây là công trình chuyên khảo có hệ thống đầu tiên nghiên cứu toàn diện về chế độ công vụ dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mệnh (1802-1841). Luận án làm rõ cơ sở hình thành, các quy định pháp luật về tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, khảo khóa, giám sát, thưởng phạt, nghĩa vụ và hoạt động thực thi công vụ trên các lĩnh vực cụ thể.
- Về mặt thực tiễn và sử liệu: Luận án tập hợp, phân loại, hệ thống hóa và lượng hóa nguồn tư liệu phong phú, có độ tin cậy cao từ chính sử (Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, Châu bản triều Nguyễn, Hoàng Việt luật lệ). Luận án xây dựng các bảng biểu thống kê về cơ cấu bộ máy, mức thuế khóa, số lượng văn bản hành chính, số lượng sớ tấu và các trường hợp sai phạm của quan lại.
- Về mặt kế thừa và đề xuất: Trên cơ sở phân tích ưu điểm và hạn chế của chế độ công vụ triều Nguyễn sơ, luận án đúc kết các bài học lịch sử có giá trị tham khảo đối với công cuộc cải cách chế độ công vụ, chính sách cán bộ, công chức và kiểm soát quyền lực hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong khung thời gian 1802-1841 (triều Gia Long và Minh Mệnh), chưa mở rộng khảo sát giai đoạn sau của triều Nguyễn (từ thời vua Thiệu Trị, Tự Đức đến năm 1884).
- Luận án không bao gồm việc khảo sát vùng đất Chân Lạp (được đặt thành trấn Tây Thành năm 1835) do tính chất đặc thù về chính trị - quân sự của vùng lãnh thổ này.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu chế độ công vụ trong toàn bộ tiến trình lịch sử triều Nguyễn (1802-1884) để đánh giá sự biến đổi của chế độ công vụ trước tác động của bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX.
- Đi sâu nghiên cứu so sánh đối chiếu chế độ công vụ triều Nguyễn với các thiết chế công vụ đương đại của các quốc gia trong khu vực Đông Á (như triều Thanh ở Trung Quốc, triều Joseon ở Triều Tiên).
- Nghiên cứu chuyên đề về từng ngạch công vụ chuyên biệt như ngạch quan tư pháp, ngạch quan giám sát hoặc đội ngũ lại viên tại cấp cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Luật học, Hành chính công, Quản lý nhà nước.
- Các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật (như Trường Đại học Luật Hà Nội và các cơ sở đào tạo luật khác) trong công tác giảng dạy, nghiên cứu môn Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam.
- Các nhà nghiên cứu thể chế lịch sử, các cơ quan hoạch định chính sách tham mưu về cải cách hành chính, xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức và phòng chống tham nhũng.
Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm: hệ thống bảng biểu thống kê tư liệu gốc tại Chương 2 và Chương 5; các phân tích về quy chế tuyển chọn, khảo xét, đãi ngộ tại Chương 3; cơ chế vận hành của Tam pháp ty và Đô sát viện tại Chương 2 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu tổ chức của Nội các thời Minh Mệnh có điểm gì khác biệt so với Nội các thời Minh, Thanh ở Trung Quốc?
Nội các thời Minh Mệnh (thành lập năm 1829) là cơ quan giúp vua khởi thảo văn thư, lưu trữ, tiếp nhận tấu sớ và tư vấn, gồm 4 tào (Bí thư tào, Bản chương tào, Chỉ dụ tào, Ký chú tào) và Nội Hàn viện, Biểu Phụng ty. Khác với quy mô lên đến 250 quan viên của Nội các nhà Minh - Thanh, Nội các thời Minh Mệnh chỉ duy trì khoảng 30 nhân viên để bảo đảm tính gọn nhẹ. Để ngăn ngừa tình trạng lạm quyền và lấn át Lục bộ, vua Minh Mệnh quy định phẩm hàm của các quan chức phụ trách Nội các đều thấp hơn Thượng thư Lục bộ.
2. Hệ thống chính quyền địa phương được cải tổ như thế nào từ thời Gia Long sang thời Minh Mệnh?
Thời Gia Long, do điều kiện đất nước mới thống nhất, chính quyền địa phương áp dụng mô hình phân quyền tạm thời gồm Bắc Thành (quản lý 5 nội trấn, 6 ngoại trấn), Gia Định Thành (quản lý 5 trấn) và phủ Thừa Thiên (quản lý 4 doanh, 7 trấn), đứng đầu là các Tổng trấn. Đến năm 1831-1832, vua Minh Mệnh bãi bỏ cấp Thành và Trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên. Dưới tỉnh là phủ, huyện (được chia làm 4 loại: tối yếu khuyết, yếu khuyết, trung khuyết, giản khuyết vào năm 1827), tổng và xã (quy định đặt Lý trưởng, Phó lý theo số đinh; bãi bỏ thổ quan, đặt lưu quan ở vùng dân tộc thiểu số).
3. Bộ Hoàng Việt luật lệ (1815) quy định chế tài xử phạt quan lại vi phạm công vụ như thế nào so với Quốc triều hình luật?
Trong tổng số 398 điều của Hoàng Việt luật lệ, có 122 điều quy định về nghĩa vụ quan lại, 125 điều về Ngũ hình, 9 điều về phạt tiền và 17 điều về các hình phạt khác (bãi chức, cách chức, tịch thu tài sản, bồi thường). So với Quốc triều hình luật thời Lê, tổng số điều khoản hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ ít hơn 54 điều, nhưng mức phạt tiền đánh vào lương bổng nặng hơn: mức phạt tối thiểu là 1 tháng lương và tối đa là 1 năm lương (trong khi Quốc triều hình luật quy định mức phạt tối thiểu dưới 1 tháng và tối đa là 8 tháng lương). Quan lại phạm tội tham lam của cải tuyệt đối không được nộp tiền chuộc tội.
4. Lực lượng quân đội dưới thời Gia Long và Minh Mệnh được tổ chức với quy mô ra sao?
Quân đội được chia thành 5 quân (Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu) và phân bổ thành Thân binh, Cấm binh, Tinh binh ở Kinh kỳ cùng lính cơ, lính mộ tại các tỉnh, gồm các binh chủng: Bộ binh, Thủy binh, Tượng binh, Kỵ binh, Pháp binh. Thời Gia Long, Bộ binh có 115.000 người, Thủy binh có 17.600 người, 200 chiến hạm, 500 chiến thuyền, 100 thuyền buồm lớn. Năm 1838 thời Minh Mệnh, tổng quân số đạt 212.250 người; lực lượng Thủy quân được tổ chức thống nhất gồm 15 vệ chia thành 3 doanh Thủy sư (Trung, Tả, Hữu).
5. Vua Gia Long và Minh Mệnh đã ban hành bao nhiêu văn bản để sắp xếp đội ngũ quan lại và nhận bao nhiêu bản tấu trình?
Theo thống kê trong Đại Nam thực lục và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tổng số văn bản ban hành để sắp xếp quan lại thời Gia Long và Minh Mệnh là 423 văn bản (thời Gia Long: 87 văn bản; thời Minh Mệnh: 336 văn bản), cao hơn nhiều so với thời Thiệu Trị (54 văn bản) và Tự Đức (40 văn bản). Từ năm 1802 đến năm 1826, vua Gia Long và Minh Mệnh đã tiếp nhận và xử lý 1.581 bản tấu của đình thần và quan lại (thời Gia Long: 20 bản; thời Minh Mệnh: 1.561 bản).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Thu Hiền là công trình nghiên cứu chuyên khảo về chế độ công vụ dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mệnh (1802-1841). Bằng việc kết hợp phương pháp lịch sử, logic, so sánh và thống kê định lượng trên nguồn tư liệu chính sử và Châu bản triều Nguyễn, luận án đã làm rõ cơ sở hình thành, hệ thống quy chế nhân sự và các hoạt động thực thi công vụ trên các lĩnh vực quản lý nhà nước. Công trình chỉ ra các đặc trưng tập quyền chuyên chế, tính nghiêm minh của luật pháp cũng như các hạn chế lịch sử của chế độ công vụ thời Nguyễn sơ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và nguồn tư liệu tin cậy cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử nhà nước - pháp luật, đồng thời gợi mở những giá trị kế thừa phục vụ cải cách nền công vụ hiện nay.