CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CƠ SỞ THỰC TIEN CẠNH TRANH ANH HUONG MỸ - NGA 1. Khái niệm địa chính trị, địa chiến lược và cạnh tranh địa chiến lược theo thuyết Hiện thực trong quan hệ quốc tế Khái niệm “dja chính trị” lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà khoa học chính trị người Thụy Điền Rudolf Kjellen vào năm 1899. Ông cho rằng những đặc điểm về kinh tế, quân sự, chính trị của bat kỳ một quốc gia nào cũng đều có bắt nguồn từ các yếu tô địa lý — môi trường, mà đây có thé là thúc đây hoặc sẽ lả sự kim hãm đối với quốc gia đó. Trai lai, từ thời cô đại, cả ở phương Đông và phương Tây tư tưởng và hành động địa chiến lược đã sớm được hình thành và phô biến, nhưng thuật ngữ về “dia chiến lược” chỉ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1942 với nội ham về “dja chính trị chiến tranh” hay “dja chính trị phòng thủ”".
Từ thế kỷ XX cho đến nay, các nội hàm về “dia chính trị” và “địa chiến luge” ngày càng được mé rộng hơn cả về lý luận và thực tiễn mà trong đó phải kê đến là kinh tế, văn hóa, tôn giáo cả vẻ mặt đôi ngoại cũng như đối nội. Dù được sử dụng khá phô biến và rộng rãi trong giới học thuật hay trong các chính sách hoạch định, phát triển của các quốc gia, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cách hiểu thống nhất nào về hai thuật ngữ này. Việc rút ra khái niệm cơ bản về hai thuật ngữ nêu trên là can thiết dé có thé đạt được cơ sở triển khai thông nhất cho nội dung của khóa luận; bài viết đã tiếp cận một số học thuyết liên quan cũng như lả các quan niệm của những học giả, chính trị gia tiêu biểu trên thé giới. Thứ nhất, là luận thuyết về bành trướng lănh thổ và không gian sinh ton, ma tiêu biểu cho luận thuyết này phải ké đến khái niệm về "không gian sinh tồn" của trường phái Đức, trước hết là Friedrich Ratzel (1844 — 1904) trong công trình “Không gian sinh tồn” xuất bản năm 1901, ông đã đưa ra khái niệm “Nha nước ' Trong bai bio “Let Us Learn Our Geopolitics” xuất bản năm 1942 của nhà sử học và nghiên cưu chính trị quốc tế người Mỹ Frederick Lewis Schuman (1904 — 1981) lan đầu tiên đưa ra thuật ngữ “địa chiên lược”.
Nó được sử dụng dé giải thích một thuật ngữ bing tiếng Đức là "Địa chính trị chiến tranh” (Wehrgeopolitik) do nha chiến lược quân sự Karl Haushofer (1969 — 1942) đưa ra trước Chiên tranh thẻ giới thứ hai. 2 Friedrich Ratzel lả người Đức vừa là nhà báo, nhà nghiên cứu, giảng day đại học. Ông lả cha để cha mon học “Dia lý chính trị” (Politische Geographie — Political Geography). 12 hữu cơ” và cho rằng nhà nước giống các sinh vật cần tôn tại và phát triển, mà dé làm được điều đó “nhitng sinh vat” này cần đấu tranh dé giành lay không gian của mình.
Bên cạnh do, luận thuyết nảy của Ratzel tiếp tục được học trỏ người Thụy Điện của ông là Rudolf Kjellen (1864 - 1922) phát triển thêm với công trình “Nha nước như một cơ thé sống” được xuất bản vào năm 1899, đưa ra năm phương điện” hoạt động của nhà nước, đồng thời nhắn mạnh ý chí dân tộc, sự cô kết nội tại và tham vọng về mở rộng không gian sinh tồn là một trong những yếu tô khiến một quốc gia tro thành cường quốc và trở nên hùng mạnh. Bên cạnh đó, khái niệm địa chính trị còn được phát triển thêm bởi nhà lịch sử hải quân người Mỹ - Alfred Thayer Mahan (1840 — 1914) va nhà địa lý người Anh — Halford John Mackinder (1861 — 1947). Ca hai ông đều cho rằng mục đích quan trọng nhất cho những cuộc dau tranh địa chính trị nhằm giảnh vị trí bá quyền trong lịch sử đều dién ra giữa các cường quốc hải dương và cường quốc lục địa. Ví dụ điển hình cho lập luận này của hai ông la sự đối đầu giữa Athens, một cường quốc hải đương, và Sparta, một cường quốc lục địa, trong cuộc Chiến tranh Peloponnese'.
Cho đến những năm 1930, các luận thuyết của Friedrich Ratzel và Rudolf Kjellen được một vị tướng người Đức — Karl Haushofcr` ứng dụng vảo thực tế khi ông giúp đưa thuyết địa chính trị vào chính sách đối ngoại của chính quyền Đức Quốc xã sau khi Hitler nắm quyền vào năm 1933; theo đó, ông cho rằng ngoài những yêu tô về mặt lãnh thé như vị trí, hình thé, quy m6, một quốc gia muốn mở rộng “ không gian sinh tồn” còn cần có một chiến lược tốt và sức mạnh về quân sự, kinh tế, và tư tưởng đối với chủ nghĩa dân tộc cũng như một nhà nước mạnh và độc tải. Thứ hai, là luận thuyết về sức mạnh của quốc gia, nội bật là quan niệm về “Site mạnh biên” của tướng hai quân My Alfred Thayer Mahanế. Đầu tiên, trong tác phẩm * Nhà nước như là một thực thẻ không gian địa lý {1): Nhà nước như là một thực thé quản chúng, nhân din {2ì: Nha nước như là một nên kinh tế: Nha nước như La một thực thé xã hội va (5) Nha nước như là một hình thải lãnh đạo. dié hành quyền lực.
“ lê Hồng Hiệp 2015, Địa chính tị (Geopolitics), Nghiên cứu quốc tế, S$" TÙ (1 505/01/dia-chỉnh-tn * Karl Haushofer (1869 — 1946), là một tưởng lĩnh, giáo su, nha địa lý, chính trị gia người Đức. ® Alfred Thayer Mahan (1840 — 1914). Cha của ông là Dennis Hart Mahan (Giáo sư tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ) và mẹ là Mary Helena Okill Mahan (1815 — 1893). Mahan theo học Trưởng Saint James, một học 13 “The Interest of America in Sea Power” (1897); ông cho rang ai năm giữ được biên.
người đó sẽ thong trị được thé giới. Các quốc gia sống bằng việc xuất khâu hang hóa thì cần kiểm soát biển, phải có và giữ được quyền kiểm soát biên, nhất là các tuyến đường biên huyết mạch, bởi đó là chính là lợi ích của quốc gia, giúp cho dat nước trờ nên giảu mạnh. Dé đạt được điều đó, lực lượng hải quân với đầy đủ các phẩm chất ưu tú chính là nhân tổ quyết định đảm bảo an ninh, quyền lực biên cho quốc gia đó. Bên cạnh đó, trong cuôn “Ảnh hưởng của sức mạnh trên biến đối với lịch sử, 1660 — 1783” (1890), ông đã nêu lên 6 nhân tố hình thành sức mạnh biển: vị trí địa lý, cau tao dia hình, quy mô lãnh thô, quy mô dan tộc, đặc tinh dan tộc, va tinh chat của chính phủ va nhân mạnh rằng những điều này nếu biết cách nhìn nhận hợp li, khai thác va sử dung phù hợp thì sẽ giúp cho quốc gia ngày càng mạnh hơn.
Thứ ba, là luận thuyết về kiểm soát không gian khu vực và toàn cầu, tiêu biêu cho luận thuyết nay chính là hai thuyết về “vùng đất trung tâm” hay “ving đất trái tim” (Heartland) của Halford J. Ong cho rằng vùng Trung A là “trục” của thé giới. Châu Au, Châu A và Châu Phi là một lục địa “đảo của thé giới" không thé tách rời. Theo đó, quan điểm của ông về quyền lực thé giới, rằng: “Ai cai trị được Đông Âu thì chỉ huy được vùng đất trung tâm.
Ai thống trị được trung tâm thì chỉ huy được đảo thế giới. Ai thong trị được đảo thế giới thì chi huy thế giới”. Ngoài ra, còn có thuyết về “vùng đất vành đai” hay “vành đai đất vùng ven” (Rimland Theory) của Nicholas J. Spyman*, một nha địa chính tri, địa chiến lược người Mỹ gốc Hà Lan.
Dựa trên tư tưởng đại - chiến lược biển của Mahan và thuyết “vùng đất trái tim” của Mackinder, Spyman đã đưa ra học thuyết “vùng đất vành dai”, trong đó tán thành hau hết cách giải thích của Mackinder về mỗi quan hệ giữa lịch sử, địa lý và chính sách viện dự bị đại học Episcopal ở phía Tay Maryland. Học tại Columbia trong hai năm, roi Mahan vào Học viện Hai quan, nơi ông tốt nghiệp hạng Nhỉ vào năm 1859 ? Halford John Mackinder (1861 — 1947), là một nha địa lý, học giả và chính trị gia người Anh, người được coi là một trong những người sáng lập ra cả địa chính trị và địa chiến lược. * Nicholas John Spyman (1893 — 1943), là một nhà khoa hịc chính trị người Mỹ, lủ Giáo sư Quan hệ Quốc tế Đại học Yale tử năm 1928 cho đến khi ông qua đời năm 1943. Ong là một trong những người sing lập của trường phái hiện thực cỗ điển trong chính sách đổi ngoại của Mỹ.
truyền tư tưởng chính trị Đông Âu sang Mỹ. 14 quốc gia trong hình thành quyền lực chính trị”: ngoại trừ cách tiếp cận quyền lực của Mackinder và cho rằng: “Ai kiểm soát vùng vành dai sẽ thong trị Âu — A; ai kiểm soát Âu - Á sẽ xác định vận mệnh của thé BIỚI”. Qua một số luận thuyết trên có thé thay, tue nhất, các luận thuyết về mở rộng không gian sinh tồn như “Thuyết không gian sinh tồn” của trường phái Đức đã đặt nền móng cho việc hệ thông hóa các khái niệm, phạm trù cơ bản vẻ: không gian, biên giới, lãnh thô, vị trí địa lý quốc gia và mối liên hệ, vai trò cũng như vị trí của chúng trong việc bảnh trướng lãnh thô quốc gia Thứ hai, các luận thuyết liên quan đến mở rộng không gian khu vực toàn câu, sức mạnh quốc gia là những lý luận tập trung vẻ địa chính trị, trong đó ban về sự tương tác giữa môi trường, điều kiện địa lý và không gian quyền lực trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, có thé hiểu đây là sự vận động của không gian quyền lực dưới sự tác động của nhân té địa lý và chính trị trong quan hệ quốc tế.
Bên cạnh đó, quan niệm về “Ving đất trái tim”, “Vùng đất vành đai” đã đưa ra sự minh định của địa lý và công cụ banh trướng không gian. đó đồng thời còn là cơ sở, định hướng trong việc thi hành chính sách đối ngoại của các cường quốc như Mỹ, Anh trong việc tiếp cận, thiết lập các “trục”, câp độ sức mạnh quyền lực của khu vực và thê giới. Có rất nhiều những cách hiểu về địa — chính trị, địa — chiến lược được đưa ra bởi các học giả chuyên nghiên cứu về địa — chính trị, địa — chiến lược trên thé giới. Về địa - chính trị, có thé kê đến như Yves Lascoste với cuốn “Pia chính trị, một lịch sử lâu dai” (2006), ông cho răng “địa — chính trị được dùng đẻ chi tat cả những yếu tô liên quan đến sự cạnh tranh quyền lực hoặc ảnh hưởng đỗi với những vùng lãnh thô và dân chúng sống trên đó!