Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự cạnh tranh chiến lược Mỹ - Nga ở Trung Đông sẽ tiếp cn cơ sở lý luận khi nghiên cứu cạnh tranh chiến lược Mỹ - Nga theo thuyết Tân hiện thực trong quan hệ quốc tế. Đông thời làm rõ cơ sở thực tiễn dẫn đến cuộc cạnh tranh chiến lược từ sau Chiến tranh lạnh giữa hai cường quốc Mỹ và Nga ở khu vực Trung Đông - một trong những điểm nóng chính trị trên thé giới. Chương 2: Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Nga ở Trung Đông trong cuộc nội chiến Syria (2011 - nay) tập trung nhắn mạnh vị thé chiến lược của Syria đối với Mỹ và Nga, sau đó khái quát diễn biến và bản chất cuộc nội chiến tại Syria. Từ đó, đưa ra những phân tích về biện pháp triển khai chiến lược cạnh tranh và sự tương tác sự tương tác chiên lược giữa hai cường quôc trong cuộc nội chiên.
Chương 3: Đánh giá tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Nga ở Trung Đông trong cuộc nội chiến Syria và dự báo xu hướng cạnh tranh trong thời gian tới đưa ra đánh giá về những tác động từ cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Nga đối với Syria, cuộc cạnh tranh Mỹ - Nga và quan hệ trong khu vực nói riêng, cũng như quan hệ quốc tế nói chung. Bên cạnh đó, sẽ dự báo các kịch bản trong tương lai đối với cuộc cạnh tranh chiến lược này. 14 PHAN NỘI DUNG CHUONG 1: CƠ SO LY LUẬN VÀ THỰC TIEN CHO SỰ CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ - NGA Ở TRUNG ĐÔNG 1.1 Các khái niệm liên quan trong đề tài - Khai niệm cạnh tranh Thuật ngữ tiếng Anh của “cạnh tranh” được sử dụng pho bién la “competition”, trong đó từ điện Macquarie của Đại học Macquarie, Australia định nghĩa, “competition” là hành động cạnh tranh; ganh đua (the act of competing; rivalry), Cạnh tranh ở cấp độ cơ bản nhất được hiểu “fà tinh huéng trong đó các đổi thủ tìm cách vượt mặt nhau dé đạt được một số mục tiêu khan hiểm ” (Hearn, 2023, p. Khai niệm “cạnh tranh” được thé hiện trong nhiêu lĩnh vực.
Trong khoa học quan hệ quốc tế, khái niệm “canh tranh” để cập đến (Pia & Diez, 2007, p. Lý thuyết quan hệ quốc tế cho rằng khái niệm cạnh tranh trong tỉnh trạng vô chính phủ trở thành nên tảng cơ bản của tư duy về chính trị quốc tế (Waltz, 1988, p. Trong đó, một sé học giả đồng thời cho rằng khả năng hợp tác giữa các quốc gia hoặc các luật lệ của một số tô chức quốc tế nhằm khắc phục hoặc hạn chế tình trạng hồn loan do cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm hướng đến trật tự mới của một thế giới hòa bình. Về bản chất, xung đột hoặc chiến tranh là một hình thức “cạnh tranh” đặc biệt ở mức độ gay gắt nhất, trong đó các chủ thé nỗ lực hành động dé vượt trội hơn các đối thủ trong bối cảnh xung đột hoàn toàn (Dickey et al.
Thực tế, cạnh tranh là một hành vi tự nhiên vả không thẻ tránh khỏi của các loài, bao gồm cả con người và các quốc gia, và do đó trở thành trạng thái tự nhiên cơ ban trong sinh hoạt của toàn bộ thé giới. Như vậy, cạnh tranh là cần thiết trong một xã hội phát triển, tuy nhiên cần được định hình và kiêm soát để tránh tình trạng xung đột gây hỗn loạn. - Khải niệm cạnh tranh chiến lược Sự xuất hiện cụm từ “chiến lược” bên cạnh khái niệm "cạnh tranh” sẽ làm thay đôi va thu hẹp cạnh tranh thành một hình thức cụ thé. Cụm từ “chiến lược” có nguồn gốc từ cụm từ “strategos” trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là một vị tướng chỉ huy trong quân đội.
Vì vậy, ở thời kỳ cô đại, chiến lược thường được hiểu là chiến lược quân sự. Theo thời gian, khái niệm nay đã trải qua những thay đôi đáng kể, ngày càng gắn liền không chỉ với chiến tranh quân sự mà còn với suy nghĩ về mục đích của chính sách, va rộng hơn la việc sử dụng vũ lực. Trong ấn bản đầu tiên của cuén Makers of Modern Strategy, Edward Meade Earleset đã định nghĩa chiến lược như sau: “C.hiển lược là nghệ thuật kiểm soát và sử dung các nguồn lực của mot quốc gia - hoặc một liên mình - bao gồm cả lực lượng vũ trang cúa quốc gia đó, cho đến cùng lợi ích sống còn của nó sẽ được thúc day và bảo đảm một cách hiệu quả trước kẻ thù, dù thực tế, tiêm ẩn hay chi don thuan là giá định ” (Earle et al. Từ "chiến lược” theo nghĩa rộng còn được hiểu là tâm quan trọng mang tính toàn cầu, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài xét về mặt thời gian.
Theo đó, “chiến lược là tổng thé các phương châm và mưu lược được hoạch định đề xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng và đề ra giải pháp nhằm đạt một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất, tạo ra trạng thai phát triển mới của một lĩnh vực, toàn xã hội hoặc toàn thế giới trong một thời kỳ nhất định" (Nguyễn Dức Lợi & Nguyễn Năng Nam, 2022). Đối với khái niệm “canh tranh chiến luge” về mặt lịch sử đã xuất hiện rõ rang vào cudi những năm 1960 - đầu những năm 1970, thời kỳ hòa hoãn của Mỹ và Liên Xô với những thỏa thuận trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh, các học giả thường không coi sự cạnh tranh gay gat giữa hai cường quốc Mỹ và Liên Xô là mang tính chiến lược. Cho đến vào cuối những năm 1960, Chiến tranh Lạnh đã bước vào một giai đoạn mới, khi Hoa Kỳ dưới thời Richard Nixon bắt dau một kỷ nguyên hòa dịu với Liên Xô, chứng kiến sự tăng cường liên lạc, đàm phán và hiệp ước với Liên Xô cũng như giám bớt căng thăng nói chung.
Chính trong bối cảnh này ma thuật ngữ “cạnh tranh chiến lược” lần đầu tiên xuất hiện trong diễn ngôn chính trị của Thượng nghị si Edward W. Brooke: “Hon bắt cứ lúc nào trong thời kỳ hậu chiến, chúng ta và Liên Xô có thé cùng nhau hành động dé lựa chọn những rúi ro mã chúng ta sẽ gánh chịu, giảm bớt căng thẳng cho xã hội bằng cách giảm bớt gánh nặng và mối nguy hiểm ctia cuộc cạnh tranh chiến lược không ngừng nghỉ” (Brooke, 1969). Như vậy, thuật ngữ “canh tranh chiến luge” xuất hiện chủ yếu trong quá trình hòa hoãn giữa Mỹ và Liên Xô và những động thái nhằm hạn chế gia tăng xung đột giữa hai quốc gia. Cụ thê, Hoa Kỳ tìm cách cải thiện quan hệ với Liên Xô.
chăng hạn như thông qua kiểm soát 16 vũ khí, với mục đích rõ ràng là giảm bớt những tác động tiêu cực của “canh tranh chiến lược” và tránh leo thang xung đột. Do đó, sự xuất hiện ban đầu của thuật ngữ này có mỗi liên hệ chặt chẽ với quan điểm cho rằng các đối thủ có thé và nên hợp tác dé ôn định mỗi quan hệ của họ nhăm tránh thảm họa, với các thỏa thuận vũ khí và các hình thức hợp tác khác. Khi tình trạng hòa hoãn kết thúc, thuật ngữ nay không hoạt động cho đến dau những năm 2000 khi George W. Bush và chính quyền của ông kích hoạt lại nó.
Thuật ngữ "cạnh tranh chiến luge” tiếp tục được nôi lên trong bối cảnh chiến dịch tranh cử của ứng cử viên George W. Đối với vấn đề chỉ trích cách tiếp cận Trung Quốc của chính quyền tiền nhiệm Bill Clinton, Bush đã lập luận rằng: “Trong khi chúng ta có thể tim thấy một sổ lĩnh vực thỏa thuận như mở cửa thị trường thì Trung Quốc cần phải được xem nh một đối thủ cạnh tranh và một đổi thủ cạnh tranh chiến lược. Chúng ta cần cứng rin hơn trong van dé này” (Baum, 2001, p. Tiếp theo đó là những phát biểu của giới chính trị Mỹ về mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, nhìn chung đều chi Trung Quốc chính là đối thủ cạnh tranh chiến lược lớn và sẽ là mối đe dọa tiềm tàng đối với Hoa Kỳ trong kỷ nguyên mới.
Trong đó, kỷ nguyên mới của cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc được đánh giá theo bốn khía cạnh: (1) bối cảnh chung của cuộc cạnh tranh, (2) sức mạnh và khả năng cạnh tranh quốc gia, (3) vị thé và ảnh hưởng quốc tế, (4) hình thành và phát trién vị thế của các cuộc cạnh tranh song phương. l9) một mức độ cơ bản, việc áp dụng trên thê hiện bản chất của nén chính trị quốc tế, trong đó hai quốc gia hùng mạnh, do ý thức hệ của họ không tương thích, nhất định sé dan đến cạnh tranh với nhau. Nói cách khác, “cạnh tranh chiến lược” có chức năng vừa là một công cụ mang tính khái niệm dé hiểu về nền chính trị đương đại, cũng vừa là một công cụ dé định hình thực tế chính trị. Khái niệm này trở nên gắn liền với kế hoạch dài hạn.
khả nắng ran de, va sức mạnh quân sự. Trong bối cảnh ngảy nay, “cạnh tranh chiến lược” như một thực tế của nền chính trị quốc tế, chỉ đến việc các cường quốc tham gia vào các cuộc cạnh tranh khốc liệt trên nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm cả kinh tế, chính trị, quân sự và văn hóa. Theo Cuneyt Gurer (2021), “Cạnh tranh chiến lược có rất nhiều mite độ và khía cạnh cụ thể, ny nhiên hai van dé cốt tử khi nói về cạnh tranh ở cap độ toàn cau la: tiềm lực quan sự vẻ sức mạnh kinh tế. Không gian số cũng đang trở nên rõ ràng hơn trong các cuộc thảo 17 luận về cạnh tranh " (Gurer, 2021).
Còn theo Scott McDonald (2020) cho rằng: “Cạnh tranh chiến lược là “những vấn đề mà lãnh đạo một quốc gia xem nhie la vấn đề căn bản doi với sự sống còn của nhà nước, và nhìn chung déu coi đó là những lợi ích quốc gia hay dan tộc ” (McDonald, 2020). Từ những phân tích vẻ lich sử của khái niệm “cạnh tranh chiến lược”, cách tiếp cận này phủ hợp với khung lý thuyết của Chủ nghĩa hiện thực, khi các học giả theo trường phái lý thuyết này cho rằng hệ thông quốc tế là một điển đàn cho sự cạnh tranh, trong đó các quốc gia tìm cách chạy đua vượt mặt nhau ^ ke +. trong hoạt động theo đuôi các mục tiêu như quyền lực và an ninh.