chương 1, Luận văn trình bày những nhân tố tác động đến quan hệ Mỹ - Nga giai đoạn 2017-2020 bao gồm các nhân tố chủ quan và các nhân tô khách quan. Các nhân tố chủ quan gồm có: Vai trò của cá nhân Tổng thống Mỹ Trump và Tổng thống Nga Putin, chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nga, chính sách đối ngoại của Nga đối với Mỹ, tương quan lực lượng giữa Mỹ và Nga, quan hệ Mỹ - Nga giai đoạn 1992-2016. Các nhân tố khách quan gồm có: Tình hình thế giới và tình hình khu vực. Những van dé nổi bật trong quan hệ Mỹ - Nga giai đoạn 2017- 2020.
O chương 2, Luận văn phân tích mối quan hệ Mỹ - Nga giai đoạn 2017-2020 13 trên một số van đề nồi bật như: Cáo buộc Nga can thiệp cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016, cuộc nội chiến Syria, hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung, dự án đường ống khí đốt Dòng chảy Phương Bắc 2, chiến tranh không gian mạng, các lệnh trừng phạt kinh tế và trục xuất ngoại giao. Tác động, triển vọng của quan hệ Mỹ - Nga và gợi mở chính sách cho Việt Nam. O chương 3, Luận văn đưa ra những đánh giá về tác động của quan hệ Mỹ - Nga giai đoạn 2017-2020 đối với hai nước và quan hệ quốc tế, đồng thời đưa ra dự báo về triển vọng của mối quan hệ này đến năm 2024 và gợi mở chính sách cho Việt Nam. CÁC NHÂN TÓ TÁC ĐỘNG ĐÉN QUAN HỆ MỸ -NGA GIAI ĐOẠN 2017-2020 1.
Các nhân tố khách quan 1. Tình hình thế giới Những năm đầu thập niên 1990, hệ thong quốc tế hai cực bị tan rã, Mỹ định hình luật chơi cũng như chi phối toàn bộ các van đề quốc tế trên thế giới. Thế giới chuyên từ trạng thái đối đầu, thù địch sang trạng thái hợp tác cùng phát triển. Tuy nhiên, khi xu thế quốc tế thay đôi, thương mại tự do được đây mạnh cũng là lúc các trung tâm khác nổi lên, chang hạn Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Au.
Tuy Mỹ vẫn giữ vị thế là siêu cường độc tôn nhưng đã có nhiều cường quốc khác bắt đầu tranh giành sự ảnh hưởng cũng như mong muốn cùng Mỹ tham gia vào cuộc chơi chỉ phối trật tự trên toàn cầu. Từ đây, khái niệm đơn cực dần được thay đổi thành khái niệm nhất siêu - đa cường. Thế giới không phủ nhận vai trò lãnh đạo của Mỹ nhưng đã xuất hiện những yêu cầu thay đổi lại luật lệ mà Mỹ đã dựng lên. Đồng thời nhiều quốc gia đã tận dụng được những lợi thế khi bối cảnh quốc tế thay đổi dé tăng cường phát triển kinh tế, ôn định hệ thống chính trị trong nước và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nồi bật lên là Nga và Trung Quốc - hai quốc gia trực tiếp thách thức vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ trên từng phương diện quân sự và kinh tế.
Khi hệ thống quốc tế đã thay đôi theo hướng không có lợi cho Mỹ, quốc gia này buộc phải thay đổi chiến lược dé kìm hãm sự phát triển của các đối thủ, đặc biệt là Nga. Điều này được dùng để lý giải cho những trọng tâm được đưa ra trong Chiến lược An ninh quốc gia Mỹ năm 2017 trong định hình quan hệ với Nga giai đoạn 2017-2020. Khi đã có mong muốn chứng minh tiềm lực quốc gia đủ mạnh dé thách thức lẫn nhau, các quốc gia cũng tiến hành nhiều hơn các hoạt động trên phạm vi toàn cầu nhằm gia tăng sự ảnh hưởng, đặc biệt đến những quốc gia, khu vực nghèo, kinh tế chậm phát triển. Các quốc gia mạnh về quân sự sẵn sàng can thiệp vào công việc nội bộ của quôc gia khác, gây nên các cuộc chiên tranh uỷ nhiệm mới, chăng hạn 15 trường hợp của Mỹ và Nga tại Syria.
Các quốc gia mạnh về kinh tế gia tăng các hình thức ngoại giao bay nợ, chang hạn Trung Quốc. Thế giới tiếp tục chứng kiến các hình thức tập hợp lực lượng, cạnh tranh gây ảnh hưởng ngày cảng mới, với nhiều phương thức khác nhau. Các nước lớn như Mỹ, Nga, Trung Quốc thu về những nguồn lợi lớn từ buôn bán vũ khí, nguồn lợi từ các quốc gia phụ thuộc vào viện trợ quốc tế dẫn đến rơi vào trạng thái bẫy nợ. Khi lợi ích bị ảnh hưởng, các đòn trừng phạt lẫn nhau giữa Mỹ và Nga liên tục được đưa ra nhằm triệt phá nền kinh tế cũng như kìm hãm sự ảnh hưởng của đối thủ.
Các đòn trừng phạt này diễn ra trên phạm vi và quy mô rộng lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và tăng trưởng của Mỹ và Nga cũng như của thương mại toàn cầu. Thương mại toàn cầu phát triển, kéo theo sự phát triển về mặt công nghệ. Công nghệ đã giúp giao thương giữa các quốc gia không còn chỉ giới hạn trong phạm vi hep mà đã có thé kết nối trên quy mô toàn thé giới. Sự phát triển của công nghệ đã kéo theo sự phát triển của các loại hình cạnh tranh khác như chiến tranh thông tin, xâm chiếm dữ liệu, tắn công mạng.
Các loại hình cạnh tranh này không chỉ xuất hiện giữa các quốc gia đối với nhau mà còn giữa các quốc gia với các tô chức tội phạm hoặc các tổ chức khủng bố. Mục tiêu tấn công hàng đầu là các cơ quan chính phủ, các tô chức tín dụng hòng chiếm đoạt các thông tin mật cũng như các khối tài sản hàng tỷ USD. Mỹ và Nga cũng không năm ngoài xu thế đó, chậm chí còn được đánh giá là hai quốc gia có nhiều hoạt động tài trợ cho các cuộc tấn công mạng cũng như có một bộ máy hacker đông đảo và thiện chiến, được đào tạo một cách bài bản, tinh vi, sẵn sàng tấn công vào bất kỳ cơ sở quân sự hoặc dân sự của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Điều này trực tiếp gây ra nhiều mối nguy về an ninh, an toan trên không gian mạng, đặc biệt quan hệ Mỹ - Nga trong giai đoạn 2017-2020.
Năm 2020, những vấn đề toàn cầu mới tiếp tục xuất hiện, nổi bật trong số đó là đại dịch Covid-19. Thuong mại toàn cầu bị giảm sút, các ngành dịch vụ, du lịch gần như bị đóng băng, tăng trưởng kinh tế thé giới bị suy giảm. Mong muốn ổn định tình hình trong nước dé tiếp tục phát triển kinh tế khiến việc cạnh tranh giữa 16 các quốc gia phần nào được hạ nhiệt, thay vào đó là sự hợp tác trong việc hồi phục kinh tế thế giới. Các khái niệm mới như ngoại giao vaccine cũng xuất hiện gắn kết các quốc gia ngày càng gan, vai trò của các cường quốc trong việc hỗ trợ các nước nghèo và nhỏ ngày càng được thúc đây.
Có thể nói đây là giai đoạn chứng kiến nhiều sự hợp tác trong quan hệ quốc tế giữa các nước lớn. Là các cường quốc hàng đầu thế giới, Mỹ và Nga không nằm ngoài các xu thế lớn nói trên, thậm chí còn được xem là quốc gia khơi mảo cho các xu thế đó. Mỹ và Nga cùng tham gia vào cuộc đua tranh giành sự ảnh hưởng trên thế giới, chủ đích xây dựng lực lượng tấn công hệ thống thông tin của nhau, đồng thời áp đặt lên nhau những biện pháp trừng phạt kinh tế nặng nề. Giai đoạn 2017-2020 được xem là giai đoạn Mỹ và Nga triển khai thực hiện mạnh mẽ các hoạt động toan cầu, tác động sâu rộng đến tình hình thé giới dé khang định vai trò và vị thế của mình, đồng thời tăng cường khả năng răn đe lên đối thủ.
Tình hình khu vực Quan hệ Mỹ - Nga giai đoạn 2017-2020 còn bị tác động bởi tình hình tại một số khu vực, đặc biệt là các điểm nóng trên thế gIỚI. Ở Đông Âu, đặc biệt là các quốc gia thuộc khối Xô Viết trước đây và các quốc gia láng giềng với Nga luôn bày tỏ nguyện vọng gia nhập NATO, chang han Ukraine, Gruzia. Điều nay có thé được lý giải thông qua góc độ bảo đảm lợi ích và an ninh cho từng quốc gia trước hành động của Nga trong tranh chấp lãnh thé với Ukraine. Việc trở thành thành viên của NATO sẽ giúp các quốc gia này có được một chỗ dựa vững chắc hơn trước tham vọng phục hưng sự vĩ đại vốn có trước đây của Nga, trong đó việc mở rộng lãnh thổ là một điều quan trọng và phần nào đó mang tính tất yếu, bài học về Crimea và miền Đông Ukraine năm 2014 vẫn đang là một minh chứng cụ thé trong tham vọng mở rộng lãnh thổ của Nga.
Việc thay đổi chính sách của các quốc gia Đông Âu này nhận được sự hỗ trợ và đảm bảo từ Mỹ, tuy nhiên đã gây nên những phản ứng tiêu cực từ phía Nga. Từ Học thuyết quân sự 17 năm 2014 cho đến Chiến lược An ninh quốc gia năm 2016 của Nga đều khang định Mỹ va NATO là đối thủ địa chính trị chủ yếu. Việc các quốc gia Đông Au thay đổi lập trường gia nhập NATO, nếu được chấp thuận, biên giới NATO gần như sẽ bao vây phần lớn lãnh thé của Nga, an ninh của Nga sẽ không còn được bao đảm. Nếu viễn cảnh nỗ ra một cuộc chiến tranh giữa Nga với Mỹ và NATO, hệ thống các đầu đạn hạt nhân của Mỹ và NATO được triển khai trên toàn tuyến biên giới với Nga sẽ là một kịch bản tồi tệ mà không một nhà lãnh đạo nào của nước Nga có thể chấp nhận.
Khác với sự căng thăng địa chính trị ở Đông Âu, phần còn lại của Châu Âu lại đang diễn ra một xu thế trái ngược, đó là hợp tác với Nga. Trong cạnh tranh quyền lực toàn cầu là đối thủ chiến lược, tuy nhiên trong kinh tế, đặc biệt là năng lượng, Nga và phần lớn các quốc gia Châu Âu là những đối tác lớn của nhau. Nga là quốc gia cung cấp đến hơn 40% tông lượng khí đốt phục vụ cho các như cầu công nghiệp và sinh hoạt của Châu Âu [Nemanja Popovic, 2020]. Tỉ lệ này có thé sẽ còn tăng cao hơn nữa nếu Dự án Dòng chảy phương Bắc 2 được đưa vào vận hành.
Đây là dự án hợp tác giữa các công ty dầu khí của Nga, Đức, Pháp trong việc vận chuyên năng lượng từ Nga qua Châu Âu thông qua biển Baltic. Khí đốt nhập khâu từ Nga có giá thành rẻ hơn rất nhiều so với khí hoá lỏng nhập khâu từ Mỹ. Dù là đối tác và đồng minh chiến lược, song đối với lợi ích quốc gia tối thượng, các quốc gia Châu Âu này vẫn sẵn sàng hợp tác với Nga dù biết rằng điều này làm Mỹ không hài lòng, đặc biệt là Đức khi đây là quốc gia đóng vai trò trung chuyên năng lượng của Nga đi khắp Châu Âu.