MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc có vai trò rất quan trọng tại Đông Bắc Á nói riêng và Châu Á - Thái Bình Dương (CTA-TBD) nói chung. Tìm hiểu về quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc để thấy rõ quan điểm, chính sách của Hoa Kỳ đối với đồng minh, với khu vực cũng như thấy được đường lối, chính sách của Hàn Quốc - một nước tầm trung với đồng minh là nước lớn là cần thiết. Từ đó, đánh giá mô hình quan hệ nước lớn - nước tầm trung, nước lớn - nước nh và những kinh nghiệm trong quan hệ quốc tế (QHQT) là nhu cầu cấp thiết đối với các nhà lãnh đạo, hoạch định - thực thi chính sách và giới học giả.
Trên thực tế, đã có không ít công trình khoa học về quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc với những khía cạnh, thời điểm khác nhau nhưng cần bổ sung thêm các nghiên cứu cập nhật đối với giai đoạn 2008-2019 với phương pháp mới. Những năm 2008-2016, quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ, được xem là thời kỳ tốt đẹp nhất qua nhiều thập niên - xuất phát từ việc Hoa Kỳ đề cao vai trò của Hàn Quốc trong chính sách tái cân bằng sau thời gian sa lầy ở Trung Đông. Từ năm 2017, quan hệ giữa hai nước gặp biến động xuất phát từ việc Hoa Kỳ yêu cầu Hàn Quốc chia sẻ trách nhiệm, nhất là về chi phí quân sự. Bên cạnh đó, dù là đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ nhưng Hàn Quốc mong muốn có quyền tự chủ cao hơn, đặc biệt là cách tiếp cận riêng trong chính sách liên Triều và lưu tâm đến các hướng ưu tiên mới trong đối ngoại.
Sự vận động đó khó có thể được giải thích đầy đủ nếu chỉ nhìn từ sự thay đổi các nhân tố nội bộ mà không đánh giá áp lực từ hệ thống quốc tế (HTQT) trong bối cảnh sức mạnh của Hoa Kỳ bị suy giảm, Trung Quốc trỗi dậy, các nước có liên quan đều điều chỉnh CSĐN để bảo vệ lợi ích của mình. Do đó, có thể vận dụng Chủ nghĩa Tân Hiện thực (THT) như một công cụ để luận giải quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc giai đoạn 2008-2019 bởi đây là một lý thuyết được thừa nhận rộng rãi, có sức ảnh hưởng lớn, phổ biến trong nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Hoa Kỳ. Chủ nghĩa THT chú trọng vào tác động của cấu trúc phân luan an 2 bố quyền lực khu vực do các cường quốc nắm giữ đến QHQT và chính sách đối ngoại (CSĐN) của quốc gia. Giả định được đặt ra là bên cạnh việc đề cao lợi ích quốc gia, trong môi trường quốc tế vô chính phủ và cạnh tranh cao độ, sự phát triển hay biến động của quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc xuất phát từ tác động của chuyển dịch trong phân bố quyền lực ở Đông Bắc Á, nổi bật là cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Hàn Quốc trở thành đối tượng được Trung Quốc tăng cường thu hút để thu hẹp sức mạnh hệ thống đồng minh của Hoa Kỳ. Ngoài ra, các nước lớn như Nhật Bản, Nga cũng có những điều chỉnh chính sách để đảm bảo lợi ích, các cơ chế đa phương đang dần hình thành trong khi các vấn đề nóng như tranh chấp lãnh hải, mâu thuẫn lịch sử, khủng hoảng an ninh trên Bán đảo Triều Tiên… vẫn diễn biến phức tạp.Việc sử dụng luận điểm của Chủ nghĩa THT để luận giải quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc sẽ góp phần làm rõ bản chất mối quan hệ này. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ, Hàn Quốc đều là những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam hiện nay. Các nước khác tại Đông Bắc Á như Nga, Nhật Bản, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Triều Tiên) cũng đều có quan hệ mật thiết với Việt Nam.
Vì vậy, tăng cường nghiên cứu để hiểu về CSĐN của các quốc gia này là cần thiết. Hơn nữa, vận dụng Chủ nghĩa THT vốn đề cao lợi ích quốc gia, chú trọng vào cấu trúc phân bố quyền lực của HTQT sẽ góp phần kiểm định nguyên tắc “lợi ích quốc gia - dân tộc” trong đường lối đối ngoại của Việt Nam và nêu thêm đánh giá về cạnh tranh chiến lược nước lớn, nhất là Hoa Kỳ - Trung Quốc vốn đang tác động đến an ninh, phát triển, vị thế của Việt Nam. Thông qua việc đánh giá thực tiễn từ một lý thuyết sẽ làm rõ hơn các nền tảng cho hoạch định CSĐN của Việt Nam trong thời gian tới, bao gồm cả kinh nghiệm khi việc thiết lập những quan hệ đặc biệt khi cần thiết, nhất là về quốc phòng - an ninh, để bảo vệ quốc gia. Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, tác giả thực hiện luận án Tiến sĩ với đề tài: “Quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Hàn Quốc từ năm 2008 đến nay: Luận giải dưới góc độ Chủ nghĩa Tân Hiện thực”.
Tình hình nghiên cứu vấn đề 2. Công trình nghiên cứu về Chủ nghĩa Tân Hiện thực Chủ nghĩa THT là một biến thể của CNHT trong QHQT - lý thuyết này xuất hiện từ thời cổ đại khi những quan điểm, lý luận mang màu sắc Hiện thực được đề cập trong tác phẩm của những học giả lớn như Thuycydides, Nicollo Machiavelli, Thomas Hobbes. Năm 1948, Hans Joachim Morgenthau đã đánh dấu khái niệm “Chủ nghĩa Hiện thực” chính thức được xác lập như một lý thuyết QHQT trong cuốn Politics Among Nations: The Struggle for Power and Peace, mô tả QHQT như một cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các nhà nước tư lợi và bi quan về triển vọng hòa bình, nhấn mạnh vai trò của yếu tố quyền lực trong chính sách và cách hành xử giữa các quốc gia [31, tr. CNHT phát triển mạnh cực thịnh trong Thế chiến II và giai đoạn đối đầu Đông - Tây trong chiến tranh Lạnh.
Đến những năm 1970, CNHT Cổ điển bị phê phán mạnh mẽ trước những thay đổi về thực tiễn và sự xuất hiện của các lý thuyết khác. Các học giả Hiện thực đã bổ sung, phát triển các luận điểm của CNHT, từ đó dẫn đến sự ra đời của Chủ nghĩa THT. Về luận điểm của Chủ nghĩa THT: Trong cuốn sách Man, the State and War (Columbia University Press, 1959), Kenneth Neal Waltz (Kenneth Waltz, Waltz) giới thiệu thuật ngữ “cấp độ phân tích” trong nghiên cứu QHQT – một sự kết nối đầu tiên giữa CNHT Cổ điển và Chủ nghĩa THT. Sau đó, với tác phẩm Theory of International Politics (1979), Kenneth Waltz được coi là người đã sáng lập Chủ nghĩa THT khi nhấn mạnh phân tích QHQT và CSĐN theo cấp độ “từ trên xuống” trong khi các nhà Hiện thực cũ tiếp cận “từ dưới (đơn vị) lên”.
Chủ nghĩa THT b qua bản chất con người và tập trung vào các ảnh hưởng của HTQT để lý giải hành vi quốc gia [157, tr. Theo đó, HTQT mang tính vô chính phủ, lợi ích cơ bản của các quốc gia tương đối giống nhau và biến số có 1 Có thể đọc thêm quan điểm của Hiện thực Cổ điển trong cuốn International Relations Theory (tái bản lần 5, 2011, Nxb.Longman) của Paul R. Viotti và Mark V. Các tác giả đánh giá con người là con người của quyền lực, nơi nào có các nhóm liên kết giữa các cá nhân thì nơi đó xuất hiện các cuộc chiến giành quyền lực.
Vì vậy, các quốc gia theo đuổi quyền lực và chiến tranh xảy ra bắt nguồn từ bản chất ích kỷ của con người, đặc biệt là cá nhân các nhà lãnh đạo. luan an 4 thể làm thay đổi QHQT chính là sự phân bố quyền lực giữa các quốc gia, hay nói cách khác HTQT có nhiều yếu tố khác nhau nhưng “cấu trúc phân bố quyền lực là quan trọng nhất” [95, tr. Tại Việt Nam, những nội dung sâu hơn về Chủ nghĩa THT được Hoàng Khắc Nam thể hiện trong chương 2, cuốn Lý thuyết quan hệ quốc tế (NXB. Thế giới, 2017) và cuốn Một số vấn đề lý luận quan hệ quốc tế dưới góc nhìn lịch sử (NXB.
Chính trị quốc gia, 2014). Theo tác giả, ý tưởng “hệ thống” không phải của Chủ nghĩa THT nhưng chính lý thuyết này là người đầu tiên đưa ý tưởng đó vào phân tích QHQT với những cơ sở và luận điểm riêng của mình và từ đó đóng góp nhiều cho lĩnh vực nghiên cứu này [37, tr. Trong bài “Chủ nghĩa Hiện thực về quan hệ quốc tế - từ truyền thống đến hiện đại và một số nhận xét”, Nguyễn Hoàng Giáp kết luận trên cơ sở luận điểm quyền lực, đa số những người theo Chủ nghĩa THT đều cho rằng những biến đổi lớn (hòa bình, ổn định và chiến tranh.) của chính trị quốc tế thường được đồng nhất với bước thăng trầm của các cường quốc. Lập luận này thể hiện trong các công trình nghiên cứu: George Modelski với The Long Cycle of Global Politic and Nation State (Comparative Studies in Society and History 1978), William R.Modelski với Leading Sectors and World Fours (Colum University of South Corolina Press, 1995) và Paul Kennedy với The Rite and Fall of the Great Powers (N.Y, Random House, 1987)… Ngoài ra, kỷ yếu Hội thảo “Cơ sở lý luận về cấu trúc trong quan hệ quốc tế và sự vận dụng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương” do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) và Trung tâm Nghiên cứu quốc tế Tp.
Hồ Chí Minh (SCIS) tổ chức ngày 15/7/2018 cũng giới thiệu nhiều bài viết có giá trị về cách tiếp cận hệ thống và lý luận quyền lực cấu trúc. Những biến thể chính trong Chủ nghĩa THT là Hiện thực Tấn Công (Defensive Realism), Hiện thực Phòng thủ (Offensive Realism), Hiện thực Tân Cổ điển (Neoclasical Realism). Kenneth Waltz là đại biểu dẫn đầu của Chủ luan an 5 nghĩa THT và đồng thời thuộc nhóm Hiện thực Phòng thủ nếu xét về các luận điểm. Các nhánh này đều có chung nhận thức là HTQT được cấu thành bởi những quốc gia có lý trí với động cơ tìm kiếm an ninh.
Tuy nhiên, phái Hiện thực Phòng thủ với các đại biểu như Waltz, Jack Snyder, Stepen Van Everra, Chales Glaser… cho rằng các quốc gia sẽ đề cao sự lý trí, tính toán chấp nhận duy trì nguyên trạng hơn là bành trướng, phòng ngừa nhiều hơn là chủ động tấn công, sẽ bảo vệ mình bằng sức mạnh có tính răn đe [95, tr. Trong khi đó, phái Hiện thực Tấn công với đại biểu dẫn đầu là John Mearsheimer cho rằng tình trạng vô chính phủ mang tính chất hỗn mang vẫn tiếp tục, là tiền đề sinh ra cạnh tranh, xung đột.